Vi-n 1 Ở Sāvatthi …
Vi-n 2 Rồi Bà-la-môn Unnàbha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Unnàbha thưa Thế Tôn:
Vi-n 3 —Có năm căn này, thưa Tôn giả Gotama, đối cảnh khác nhau (nànavisayàni), hành cảnh khác nhau (nànà—gocaràni), chúng không dung nạp (paccanubhoniti) hành cảnh đối cảnh của nhau. Thế nào là năm? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn. Thưa Tôn giả Goama, năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau, thời cái gì làm chỗ quy tựa cho chúng? Và cái gì dung nạp hành cảnh đối cảnh của chúng?
Vi-n 4 —Này Bà-la-môn, có năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau. Thế nào là năm? Nhãn căn … thân căn. Này Bà-la-môn, năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau, ý làm chỗ quy tựa cho chúng, ý dung nạp hành cảnh đối cảnh của chúng.
Vi-n 5 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho ý?
—Này Bà-la-môn, niệm là chỗ quy tựa cho ý.
Vi-n 6 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho niệm?
—Này Bà-la-môn, giải thoát là chỗ quy tựa cho niệm.
Vi-n 7 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho giải thoát?
—Này Bà-la-môn, Niết-bàn là chỗ quy tựa cho giải thoát.
Vi-n 8 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì là chỗ quy tựa cho Niết-bàn?
—Này Bà-la-môn, câu hỏi đi quá xa (ajjhaparam) không thể nắm được chỗ tận cùng của câu hỏi. Này Bà-la-môn, Phạm hạnh được sống để thể nhập Niết-bàn, Phạm hạnh lấy Niết-bàn làm mục đích, lấy Niết-bàn làm cứu cánh.
Vi-n 9 Rồi Bà-la-môn Unnàbha hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Vi-n 10 Sau khi Bà-la-môn ra đi không bao lâu, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 11 —Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái nhà có nóc nhọn, hay một giảng đường có nóc nhọn, với cửa sổ hướng về phía Ðông, khi mặt trời mọc và các tia nắng chiếu vào ngang qua cửa sổ, chúng dựa vào chỗ nào?
—Chúng dựa trên bức tường phía Tây, bạch Thế Tôn.
Vi-n 12 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, lòng tin của Bà-la-môn Unnàbha hướng về, căn cứ, được an trú trên Như Lai. Lòng tin ấy kiên cố, không bị Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chiếm đoạt. Nếu trong lúc này, này các Tỷ-kheo, Bà-la-môn Unnàbha bị mệnh chung, không có một kiết sử nào có thể cột để kéo Bà-la-môn Unnàbha trở lui về đời này.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho uṇṇābho brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho uṇṇābho brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“Pañcimāni, bho gotama, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhonti.
Katamāni pañca?
Cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
Imesaṁ nu kho, bho gotama, pañcannaṁ indriyānaṁ nānāvisayānaṁ nānāgocarānaṁ na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhontānaṁ kiṁ paṭisaraṇaṁ, ko ca nesaṁ gocaravisayaṁ paccanubhotī”ti?
“Pañcimāni, brāhmaṇa, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhonti.
Katamāni pañca?
Cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
Imesaṁ kho, brāhmaṇa, pañcannaṁ indriyānaṁ nānāvisayānaṁ nānāgocarānaṁ na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhontānaṁ mano paṭisaraṇaṁ, manova nesaṁ gocaravisayaṁ paccanubhotī”ti.
“Manassa pana, bho gotama, kiṁ paṭisaraṇan”ti?
“Manassa kho, brāhmaṇa, sati paṭisaraṇan”ti.
“Satiyā pana, bho gotama, kiṁ paṭisaraṇan”ti?
“Satiyā kho, brāhmaṇa, vimutti paṭisaraṇan”ti.
“Vimuttiyā pana, bho gotama, kiṁ paṭisaraṇan”ti?
“Vimuttiyā kho, brāhmaṇa, nibbānaṁ paṭisaraṇan”ti.
“Nibbānassa pana, bho gotama, kiṁ paṭisaraṇan”ti?
“Accayāsi, brāhmaṇa, pañhaṁ, nāsakkhi pañhassa pariyantaṁ gahetuṁ.
Nibbānogadhañhi, brāhmaṇa, brahmacariyaṁ vussati nibbānaparāyaṇaṁ nibbānapariyosānan”ti.
Atha kho uṇṇābho brāhmaṇo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkante uṇṇābhe brāhmaṇe bhikkhū āmantesi:
“seyyathāpi, bhikkhave, kūṭāgāre vā kūṭāgārasālāyaṁ vā pācīnavātapānā sūriye uggacchante vātapānena rasmi pavisitvā kvāssa patiṭṭhitā”ti?
“Pacchimāyaṁ, bhante, bhittiyan”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, uṇṇābhassa brāhmaṇassa tathāgate saddhā niviṭṭhā mūlajātā patiṭṭhitā daḷhā asaṁhāriyā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Imamhi ce, bhikkhave, samaye uṇṇābho brāhmaṇo kālaṁ kareyya, natthi taṁ saṁyojanaṁ yena saṁyojanena saṁyutto uṇṇābho brāhmaṇo puna imaṁ lokaṁ āgaccheyyā”ti.
Dutiyaṁ.
At Sāvatthī.
Then Uṇṇābha the brahmin went up to the Buddha, and exchanged greetings with him.
When the greetings and polite conversation were over, he sat down to one side and said to the Buddha:
“Worthy Gotama, these five faculties have different domains and different ranges, and don’t experience each others’ domain and range.
What five?
The faculties of the eye, ear, nose, tongue, and body.
What do these five faculties, with their different domains and ranges, have recourse to? What experiences their domains and ranges?”
“Brahmin, these five faculties have different domains and different ranges, and don’t experience each others’ domain and range.
What five?
The faculties of the eye, ear, nose, tongue, and body.
These five faculties, with their different domains and ranges, have recourse to the mind. And the mind experiences their domains and ranges.”
“But worthy Gotama, what does the mind have recourse to?”
“The mind has recourse to mindfulness.”
“But what does mindfulness have recourse to?”
“Mindfulness has recourse to freedom.”
“But what does freedom have recourse to?”
“Freedom has recourse to extinguishment.”
“But what does extinguishment have recourse to?”
“This question goes too far, brahmin! You weren’t able to grasp the limit of questioning.
For extinguishment is the objective, destination, and culmination of the spiritual life.”
And then the brahmin Uṇṇābha approved and agreed with what the Buddha said. He got up from his seat, bowed, and respectfully circled the Buddha, keeping him on his right, before leaving.
Then, not long after he had left, the Buddha addressed the mendicants:
“Suppose there was a bungalow or a hall with a peaked roof, with windows on the eastern side. When the sun rises and a ray of light enters through a window, where would it land?”
“On the western wall, sir.”
“In the same way, the brahmin Uṇṇābha’s faith in the Realized One is settled, rooted, and planted deep. It’s strong and can’t be shifted by any ascetic or brahmin or god or Māra or divinity or by anyone in the world.
If he were to pass away at this time, he would be bound by no fetter that might return him to this world.”
Vi-n 1 Ở Sāvatthi …
Vi-n 2 Rồi Bà-la-môn Unnàbha đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu liền ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, Bà-la-môn Unnàbha thưa Thế Tôn:
Vi-n 3 —Có năm căn này, thưa Tôn giả Gotama, đối cảnh khác nhau (nànavisayàni), hành cảnh khác nhau (nànà—gocaràni), chúng không dung nạp (paccanubhoniti) hành cảnh đối cảnh của nhau. Thế nào là năm? Nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn. Thưa Tôn giả Goama, năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau, thời cái gì làm chỗ quy tựa cho chúng? Và cái gì dung nạp hành cảnh đối cảnh của chúng?
Vi-n 4 —Này Bà-la-môn, có năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau. Thế nào là năm? Nhãn căn … thân căn. Này Bà-la-môn, năm căn này, đối cảnh khác nhau, hành cảnh khác nhau, chúng không dung nạp hành cảnh đối cảnh của nhau, ý làm chỗ quy tựa cho chúng, ý dung nạp hành cảnh đối cảnh của chúng.
Vi-n 5 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho ý?
—Này Bà-la-môn, niệm là chỗ quy tựa cho ý.
Vi-n 6 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho niệm?
—Này Bà-la-môn, giải thoát là chỗ quy tựa cho niệm.
Vi-n 7 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì làm chỗ quy tựa cho giải thoát?
—Này Bà-la-môn, Niết-bàn là chỗ quy tựa cho giải thoát.
Vi-n 8 —Nhưng thưa Tôn giả Gotama, cái gì là chỗ quy tựa cho Niết-bàn?
—Này Bà-la-môn, câu hỏi đi quá xa (ajjhaparam) không thể nắm được chỗ tận cùng của câu hỏi. Này Bà-la-môn, Phạm hạnh được sống để thể nhập Niết-bàn, Phạm hạnh lấy Niết-bàn làm mục đích, lấy Niết-bàn làm cứu cánh.
Vi-n 9 Rồi Bà-la-môn Unnàbha hoan hỷ, tín thọ lời Thế Tôn thuyết, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân bên hữu hướng về Ngài rồi ra đi.
Vi-n 10 Sau khi Bà-la-môn ra đi không bao lâu, Thế Tôn bảo các Tỷ-kheo:
Vi-n 11 —Ví như, này các Tỷ-kheo, một cái nhà có nóc nhọn, hay một giảng đường có nóc nhọn, với cửa sổ hướng về phía Ðông, khi mặt trời mọc và các tia nắng chiếu vào ngang qua cửa sổ, chúng dựa vào chỗ nào?
—Chúng dựa trên bức tường phía Tây, bạch Thế Tôn.
Vi-n 12 —Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, lòng tin của Bà-la-môn Unnàbha hướng về, căn cứ, được an trú trên Như Lai. Lòng tin ấy kiên cố, không bị Sa-môn, Bà-la-môn, Thiên, Ma, Phạm thiên hay một ai ở đời có thể chiếm đoạt. Nếu trong lúc này, này các Tỷ-kheo, Bà-la-môn Unnàbha bị mệnh chung, không có một kiết sử nào có thể cột để kéo Bà-la-môn Unnàbha trở lui về đời này.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho uṇṇābho brāhmaṇo yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavatā saddhiṁ sammodi.
Sammodanīyaṁ kathaṁ sāraṇīyaṁ vītisāretvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho uṇṇābho brāhmaṇo bhagavantaṁ etadavoca:
“Pañcimāni, bho gotama, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni, na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhonti.
Katamāni pañca?
Cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
Imesaṁ nu kho, bho gotama, pañcannaṁ indriyānaṁ nānāvisayānaṁ nānāgocarānaṁ na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhontānaṁ kiṁ paṭisaraṇaṁ, ko ca nesaṁ gocaravisayaṁ paccanubhotī”ti?
“Pañcimāni, brāhmaṇa, indriyāni nānāvisayāni nānāgocarāni na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhonti.
Katamāni pañca?
Cakkhundriyaṁ, sotindriyaṁ, ghānindriyaṁ, jivhindriyaṁ, kāyindriyaṁ.
Imesaṁ kho, brāhmaṇa, pañcannaṁ indriyānaṁ nānāvisayānaṁ nānāgocarānaṁ na aññamaññassa gocaravisayaṁ paccanubhontānaṁ mano paṭisaraṇaṁ, manova nesaṁ gocaravisayaṁ paccanubhotī”ti.
“Manassa pana, bho gotama, kiṁ paṭisaraṇan”ti?
“Manassa kho, brāhmaṇa, sati paṭisaraṇan”ti.
“Satiyā pana, bho gotama, kiṁ paṭisaraṇan”ti?
“Satiyā kho, brāhmaṇa, vimutti paṭisaraṇan”ti.
“Vimuttiyā pana, bho gotama, kiṁ paṭisaraṇan”ti?
“Vimuttiyā kho, brāhmaṇa, nibbānaṁ paṭisaraṇan”ti.
“Nibbānassa pana, bho gotama, kiṁ paṭisaraṇan”ti?
“Accayāsi, brāhmaṇa, pañhaṁ, nāsakkhi pañhassa pariyantaṁ gahetuṁ.
Nibbānogadhañhi, brāhmaṇa, brahmacariyaṁ vussati nibbānaparāyaṇaṁ nibbānapariyosānan”ti.
Atha kho uṇṇābho brāhmaṇo bhagavato bhāsitaṁ abhinanditvā anumoditvā uṭṭhāyāsanā bhagavantaṁ abhivādetvā padakkhiṇaṁ katvā pakkāmi.
Atha kho bhagavā acirapakkante uṇṇābhe brāhmaṇe bhikkhū āmantesi:
“seyyathāpi, bhikkhave, kūṭāgāre vā kūṭāgārasālāyaṁ vā pācīnavātapānā sūriye uggacchante vātapānena rasmi pavisitvā kvāssa patiṭṭhitā”ti?
“Pacchimāyaṁ, bhante, bhittiyan”ti.
“Evameva kho, bhikkhave, uṇṇābhassa brāhmaṇassa tathāgate saddhā niviṭṭhā mūlajātā patiṭṭhitā daḷhā asaṁhāriyā samaṇena vā brāhmaṇena vā devena vā mārena vā brahmunā vā kenaci vā lokasmiṁ.
Imamhi ce, bhikkhave, samaye uṇṇābho brāhmaṇo kālaṁ kareyya, natthi taṁ saṁyojanaṁ yena saṁyojanena saṁyutto uṇṇābho brāhmaṇo puna imaṁ lokaṁ āgaccheyyā”ti.
Dutiyaṁ.