Vi-n 1 …
Vi-n 2 Một thời thôn trưởng Ràsiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, thôn trưởng Ràsiya bạch Thế Tôn:
—Con có nghe rằng Sa-môn Gotama chỉ trích tất cả khổ hạnh, bài bác, chống báng hoàn toàn mọi người sống khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ. Những người nói như vậy, bạch Thế Tôn, không biết có nói đúng với lời Thế Tôn, không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thực, trả lời thuận pháp, đúng pháp, và không một ai nói lời tương ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích?
—Này Thôn trưởng, những ai đã nói như sau: “Sa-môn Gotama chỉ trích tất cả khổ hạnh, bài bác, chống báng hoàn toàn mọi lối sống khắc khổ”; họ nói không đúng lời Ta nói, họ xuyên tạc Ta với điều không thật, với điều không chơn chánh.
I
Vi-n 4 Có hai cực đoan mà người xuất gia không nên thực hành: Một là say đắm dục lạc đối với các dục vọng hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích. Hai là hành hạ tự thân, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Từ bỏ hai cực đoan này là con đường trung đạo, đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 5 Thế nào là con đường trung đạo ấy, này Thôn trưởng, đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là con đường trung đạo, này Thôn trưởng, được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
II
Vi-n 6 Này Thôn trưởng, có ba hạng người hưởng thọ vật dục có mặt ở trong đời. Thế nào là ba?
Vi-n 7 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
Vi-n 8 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
Vi-n 9 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức.
Vi-n 10 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
Vi-n 11 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
Vi-n 12 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ, làm các công đức.
Vi-n 13 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp, không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
Vi-n 14 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
Vi-n 15 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ, và làm các công đức. Nhưng người ấy hưởng thọ với tâm tham trước, đắm say, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, không với trí tuệ xuất ly.
Vi-n 16 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Nhưng người ấy hưởng thọ với tâm không tham trước, không say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hiểm và với trí huệ xuất ly.
III
Vi-n 17 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện bị chỉ trích. Về ba phương diện nào bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không vui sướng, không hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.
Này Thôn trưởng, người hưởng thọ vật dục này về ba phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 18 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, nhưng không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán. Về hai phương diện gì bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Về một phương diện gì người ấy được tán thán? Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện này, người ấy được tán thán.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán.
Vi-n 19 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui vẻ, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán. Về một phương diện gì người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích. Về phương diện gì người ấy được tán thán? Người ấy tự mình vui vẻ, hoan hỷ, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán.
Vi-n 20 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về ba phương diện bị chỉ trích. Một phương diện gì được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện này, người ấy được tán thán. Về ba phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản một cách phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về ba phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 21 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, tự mình vui sướng, hoan hỷ, nhưng không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích. Về hai phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Về hai phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 22 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích. Về ba phương diện nào được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán. Thế nào là một phương diện người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về một phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 23 Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, này Thôn trưởng, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ và không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích. Về một phương diện nào được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện này, người ấy được tán thán. Về hai phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy không tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 24 Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, này Thôn trưởng, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích. Về hai phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Về một phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 25 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người ấy hưởng thọ các tài sản một cách tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, với trí tuệ không xuất ly. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích. Về ba phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán. Về một phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy hưởng thọ các tài sản ấy với tâm tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, với trí tuệ không xuất ly, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 26 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người ấy hưởng thọ các tài sản ấy, không có tham trước, không có say đắm, không có phạm tội, thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ xuất ly. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về bốn phương diện được tán thán. Về bốn phương diện nào được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán. Người ấy hưởng thọ tài sản ấy không có tham trước, không có say đắm, không có phạm tội, thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ xuất ly, về phương diện thứ tư này, người ấy được tán thán.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về bốn phương diện được tán thán.
IV
Vi-n 27 Này Thôn trưởng, có ba hạng người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, có mặt hiện sống ở đời.
Vi-n 28 Này Thôn trưởng, có hạng người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, do lòng tin đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy nghĩ rằng: “Mong rằng ta chứng được thiện pháp; mong rằng ta chứng ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!”. Vị ấy tự mình hành xác, hành khổ, nhưng không chứng được thiện pháp nào; không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh nào.
Vi-n 29 Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ rằng: “Mong rằng ta chứng được thiện pháp; mong rằng ta chứng ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!”. Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp; nhưng không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.
Vi-n 30 Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ rằng: “Mong rằng ta chứng được thiện pháp; mong rằng ta chứng ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!” Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp; chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.
V
Vi-n 31 Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, không chứng được thiện pháp; không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về ba phương diện bị chỉ trích. Thế nào là về ba phương diện bị chỉ trích? Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không chứng đắc thiện pháp, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.
Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về ba phương diện này bị chỉ trích.
Vi-n 32 Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp, nhưng không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán. Thế nào là về hai phương diện người ấy bị chỉ trích? Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Thế nào là về một phương diện người ấy được tán thán? Người ấy chứng được thiện pháp, về phương diện này, người ấy được tán thán.
Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán.
Vi-n 33 Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp, và chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán. Về một phương diện nào bị chỉ trích? Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích. Về hai phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy chứng được thiện pháp, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán.
VI
Vi-n 34 Này Thôn trưởng, có ba pháp thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Thế nào là ba?
Vi-n 35 Phàm người tham dục (ràga), do nhân tham dục, nghĩ đến tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi tham dục được đoạn tận, người ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai. Như vậy, những pháp này thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 36 Phàm người sân hận, do nhân sân hận, nghĩ đến tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi sân hận được đoạn tận, người ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai. Như vậy, những pháp này thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 37 Phàm người si mê, do nhân si mê, nghĩ đến tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi si mê được đoạn tận, vị ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai. Như vậy, những pháp này thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Ba pháp này, này Thôn trưởng, thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 38 Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Ràsiya bạch Thế Tôn:
—Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Atha kho rāsiyo gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rāsiyo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, ‘samaṇo gotamo sabbaṁ tapaṁ garahati, sabbaṁ tapassiṁ lūkhajīviṁ ekaṁsena upavadati upakkosatī’ti.
Ye te, bhante, evamāhaṁsu: ‘samaṇo gotamo sabbaṁ tapaṁ garahati, sabbaṁ tapassiṁ lūkhajīviṁ ekaṁsena upavadati upakkosatī’ti, kacci te, bhante, bhagavato vuttavādino, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkhanti, dhammassa cānudhammaṁ byākaronti, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchatī”ti?
“Ye te, gāmaṇi, evamāhaṁsu: ‘samaṇo gotamo sabbaṁ tapaṁ garahati, sabbaṁ tapassiṁ lūkhajīviṁ ekaṁsena upavadati upakkosatī’ti, na me te vuttavādino, abbhācikkhanti ca pana maṁ te asatā tucchā abhūtena.
Dveme, gāmaṇi, antā pabbajitena na sevitabbā—
yo cāyaṁ kāmesu kāmasukhallikānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, yo cāyaṁ attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito.
Ete te, gāmaṇi, ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā—cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Katamā ca sā, gāmaṇi, majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā—cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati?
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Ayaṁ kho sā, gāmaṇi, majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā—cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Tayo kho me, gāmaṇi, kāmabhogino santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame tayo?
Idha, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī adhammena bhoge pariyesati, sāhasena adhammena bhoge pariyesitvā sāhasena na attānaṁ sukheti na pīṇeti na saṁvibhajati na puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī adhammena bhoge pariyesati sāhasena.
Adhammena bhoge pariyesitvā sāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti, na saṁvibhajati na puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī adhammena bhoge pariyesati sāhasena.
Adhammena bhoge pariyesitvā sāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammādhammena bhoge pariyesati sāhasenapi asāhasenapi.
Dhammādhammena bhoge pariyesitvā sāhasenapi asāhasenapi na attānaṁ sukheti, na pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammādhammena bhoge pariyesati sāhasenapi asāhasenapi.
Dhammādhammena bhoge pariyesitvā sāhasenapi asāhasenapi attānaṁ sukheti pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammādhammena bhoge pariyesati, sāhasenapi asāhasenapi.
Dhammādhammena bhoge pariyesitvā sāhasenapi asāhasenapi attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena.
Dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena na attānaṁ sukheti, na pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena.
Dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena.
Dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Te ca bhoge gadhito mucchito ajjhopanno anādīnavadassāvī anissaraṇapañño paribhuñjati.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena.
Dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Te ca bhoge agadhito amucchito anajjhopanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī adhammena bhoge pariyesati sāhasena, adhammena bhoge pariyesitvā sāhasena na attānaṁ sukheti, na pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī tīhi ṭhānehi gārayho.
Katamehi tīhi ṭhānehi gārayho?
Adhammena bhoge pariyesati sāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Na attānaṁ sukheti na pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Na saṁvibhajati, na puññāni karotīti, iminā tatiyena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi tīhi ṭhānehi gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī adhammena bhoge pariyesati sāhasena, adhammena bhoge pariyesitvā sāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī dvīhi ṭhānehi gārayho, ekena ṭhānena pāsaṁso.
Katamehi dvīhi ṭhānehi gārayho?
Adhammena bhoge pariyesati sāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Na saṁvibhajati, na puññāni karotīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Katamena ekena ṭhānena pāsaṁso?
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā ekena ṭhānena pāsaṁso.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi dvīhi ṭhānehi gārayho, iminā ekena ṭhānena pāsaṁso.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī adhammena bhoge pariyesati sāhasena, adhammena bhoge pariyesitvā sāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī ekena ṭhānena gārayho, dvīhi ṭhānehi pāsaṁso.
Katamena ekena ṭhānena gārayho?
Adhammena bhoge pariyesati sāhasenāti, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Katamehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso?
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Saṁvibhajati puññāni karotīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī, iminā ekena ṭhānena gārayho, imehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammādhammena bhoge pariyesati sāhasenapi asāhasenapi, dhammādhammena bhoge pariyesitvā sāhasenapi asāhasenapi na attānaṁ sukheti, na pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī ekena ṭhānena pāsaṁso, tīhi ṭhānehi gārayho.
Katamena ekena ṭhānena pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā ekena ṭhānena pāsaṁso.
Katamehi tīhi ṭhānehi gārayho?
Adhammena bhoge pariyesati sāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Na attānaṁ sukheti, na pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Na saṁvibhajati, na puññāni karotīti, iminā tatiyena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī iminā ekena ṭhānena pāsaṁso, imehi tīhi ṭhānehi gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammādhammena bhoge pariyesati sāhasenapi asāhasenapi, dhammādhammena bhoge pariyesitvā sāhasenapi asāhasenapi attānaṁ sukheti pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī dvīhi ṭhānehi pāsaṁso, dvīhi ṭhānehi gārayho.
Katamehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Katamehi dvīhi ṭhānehi gārayho?
Adhammena bhoge pariyesati sāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Na saṁvibhajati, na puññāni karotīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso, imehi dvīhi ṭhānehi gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammādhammena bhoge pariyesati sāhasenapi asāhasenapi, dhammādhammena bhoge pariyesitvā sāhasenapi asāhasenapi attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī tīhi ṭhānehi pāsaṁso, ekena ṭhānena gārayho.
Katamehi tīhi ṭhānehi pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Saṁvibhajati puññāni karotīti, iminā tatiyena ṭhānena pāsaṁso.
Katamena ekena ṭhānena gārayho?
Adhammena bhoge pariyesati sāhasenāti, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi tīhi ṭhānehi pāsaṁso, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena, dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena, na attānaṁ sukheti, na pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī ekena ṭhānena pāsaṁso, dvīhi ṭhānehi gārayho.
Katamena ekena ṭhānena pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā ekena ṭhānena pāsaṁso.
Katamehi dvīhi ṭhānehi gārayho?
Na attānaṁ sukheti, na pīṇetīti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Na saṁvibhajati, na puññāni karotīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī iminā ekena ṭhānena pāsaṁso, imehi dvīhi ṭhānehi gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena, dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī dvīhi ṭhānehi pāsaṁso, ekena ṭhānena gārayho.
Katamehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Katamena ekena ṭhānena gārayho?
Na saṁvibhajati, na puññāni karotīti, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena, dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti, te ca bhoge gadhito mucchito ajjhopanno anādīnavadassāvī anissaraṇapañño paribhuñjati.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī tīhi ṭhānehi pāsaṁso, ekena ṭhānena gārayho.
Katamehi tīhi ṭhānehi pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Saṁvibhajati puññāni karotīti, iminā tatiyena ṭhānena pāsaṁso.
Katamena ekena ṭhānena gārayho?
Te ca bhoge gadhito mucchito ajjhopanno anādīnavadassāvī anissaraṇapañño paribhuñjatīti, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi tīhi ṭhānehi pāsaṁso, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena, dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Te ca bhoge agadhito amucchito anajjhopanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī catūhi ṭhānehi pāsaṁso.
Katamehi catūhi ṭhānehi pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Saṁvibhajati puññāni karotīti, iminā tatiyena ṭhānena pāsaṁso.
Te ca bhoge agadhito amucchito anajjhopanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjatīti, iminā catutthena ṭhānena pāsaṁso.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi catūhi ṭhānehi pāsaṁso.
Tayome, gāmaṇi, tapassino lūkhajīvino santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame tayo?
Idha, gāmaṇi, ekacco tapassī lūkhajīvī saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti:
‘appeva nāma kusalaṁ dhammaṁ adhigaccheyyaṁ, appeva nāma uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikareyyan’ti.
So attānaṁ ātāpeti paritāpeti, kusalañca dhammaṁ nādhigacchati, uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ na sacchikaroti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco tapassī lūkhajīvī saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti:
‘appeva nāma kusalaṁ dhammaṁ adhigaccheyyaṁ, appeva nāma uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikareyyan’ti.
So attānaṁ ātāpeti paritāpeti, kusalañhi kho dhammaṁ adhigacchati, uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ na sacchikaroti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco tapassī lūkhajīvī saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti:
‘appeva nāma kusalaṁ dhammaṁ adhigaccheyyaṁ, appeva nāma uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikareyyan’ti.
So attānaṁ ātāpeti paritāpeti, kusalañca dhammaṁ adhigacchati, uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikaroti.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ tapassī lūkhajīvī attānaṁ ātāpeti paritāpeti, kusalañca dhammaṁ nādhigacchati, uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ na sacchikaroti. Ayaṁ, gāmaṇi, tapassī lūkhajīvī tīhi ṭhānehi gārayho.
Katamehi tīhi ṭhānehi gārayho?
Attānaṁ ātāpeti paritāpetīti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Kusalañca dhammaṁ nādhigacchatīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ na sacchikarotīti, iminā tatiyena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, tapassī lūkhajīvī, imehi tīhi ṭhānehi gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ tapassī lūkhajīvī attānaṁ ātāpeti paritāpeti, kusalañhi kho dhammaṁ adhigacchati, uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ na sacchikaroti.
Ayaṁ, gāmaṇi, tapassī lūkhajīvī dvīhi ṭhānehi gārayho, ekena ṭhānena pāsaṁso.
Katamehi dvīhi ṭhānehi gārayho?
Attānaṁ ātāpeti paritāpetīti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ na sacchikarotīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Katamena ekena ṭhānena pāsaṁso?
Kusalañhi kho dhammaṁ adhigacchatīti, iminā ekena ṭhānena pāsaṁso.
Ayaṁ, gāmaṇi, tapassī lūkhajīvī imehi dvīhi ṭhānehi gārayho, iminā ekena ṭhānena pāsaṁso.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ tapassī lūkhajīvī attānaṁ ātāpeti paritāpeti, kusalañca dhammaṁ adhigacchati, uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikaroti. Ayaṁ, gāmaṇi, tapassī lūkhajīvī ekena ṭhānena gārayho, dvīhi ṭhānehi pāsaṁso.
Katamena ekena ṭhānena gārayho?
Attānaṁ ātāpeti paritāpetīti, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Katamehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso?
Kusalañca dhammaṁ adhigacchatīti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikarotīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Ayaṁ, gāmaṇi, tapassī lūkhajīvī iminā ekena ṭhānena gārayho, imehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso.
Tisso imā, gāmaṇi, sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Katamā tisso?
Yaṁ ratto rāgādhikaraṇaṁ attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti.
Rāge pahīne nevattabyābādhāya ceteti, na parabyābādhāya ceteti, na ubhayabyābādhāya ceteti.
Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Yaṁ duṭṭho dosādhikaraṇaṁ attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti.
Dose pahīne nevattabyābādhāya ceteti, na parabyābādhāya ceteti, na ubhayabyābādhāya ceteti.
Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Yaṁ mūḷho mohādhikaraṇaṁ attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti.
Mohe pahīne nevattabyābādhāya ceteti, na parabyābādhāya ceteti, na ubhayabyābādhāya ceteti.
Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Imā kho, gāmaṇi, tisso sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhī”ti.
Evaṁ vutte, rāsiyo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante …pe…
upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Dvādasamaṁ.
Then Rāsiya the chief went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, I have heard this: ‘The ascetic Gotama criticizes all forms of mortification. He categorically condemns and denounces those fervent mortifiers who live rough.’
Do those who say this repeat what the Buddha has said, and not misrepresent him with an untruth? Is their explanation in line with the teaching? Are there any legitimate grounds for rebuttal and criticism?”
“Chief, those who say this do not repeat what I have said. They misrepresent me with what is false, hollow, and untrue.
These two extremes should not be cultivated by one who has gone forth.
Indulgence in sensual pleasures, which is low, crude, ordinary, ignoble, and pointless. And indulgence in self-mortification, which is painful, ignoble, and pointless.
Avoiding these two extremes, the Realized One understood the middle way of practice, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.
And what is that middle way of practice?
It is simply this noble eightfold path, that is:
right view, right purpose, right speech, right action, right livelihood, right effort, right mindfulness, and right immersion.
This, chief, is the middle way of practice that was understood by the Realized One, which gives vision and knowledge, and leads to peace, direct knowledge, awakening, and extinguishment.
There are these three pleasure seekers in the world.
What three?
Take a pleasure seeker who seeks wealth using illegitimate, coercive means, and who doesn’t make themselves happy and pleased, or share it and make merit.
Next, a pleasure seeker seeks wealth using illegitimate, coercive means.
They make themselves happy and pleased, but don’t share it and make merit.
Next, a pleasure seeker seeks wealth using illegitimate, coercive means.
They make themselves happy and pleased, and they share it and make merit.
Next, a pleasure seeker seeks wealth using means both legitimate and illegitimate, and coercive and non-coercive.
They don’t make themselves happy and pleased, or share it and make merit.
Next, a pleasure seeker seeks wealth using means both legitimate and illegitimate, and coercive and non-coercive.
They don’t make themselves happy and pleased, or share it and make merit.
Next, a pleasure seeker seeks wealth using means both legitimate and illegitimate, and coercive and non-coercive.
They make themselves happy and pleased, and they share it and make merit.
Next, a pleasure seeker seeks wealth using legitimate, non-coercive means.
They don’t make themselves happy and pleased, or share it and make merit.
Next, a pleasure seeker seeks wealth using legitimate, non-coercive means.
They make themselves happy and pleased, but don’t share it and make merit.
Next, a pleasure seeker seeks wealth using legitimate, non-coercive means.
They make themselves happy and pleased, and they share it and make merit.
They enjoy that wealth tied, infatuated, attached, blind to the drawbacks, and not understanding the escape.
Next, a pleasure seeker seeks wealth using legitimate, non-coercive means.
They make themselves happy and pleased, and they share it and make merit.
And they enjoy that wealth untied, uninfatuated, unattached, seeing the drawbacks, and understanding the escape.
Now, consider the pleasure seeker who seeks wealth using illegitimate, coercive means, and who doesn’t make themselves happy and pleased, or share it and make merit.
They may be criticized on three grounds.
What three?
They seek wealth using illegitimate, coercive means. This is the first ground for criticism.
They don’t make themselves happy and pleased. This is the second ground for criticism.
They don’t share it and make merit. This is the third ground for criticism.
This pleasure seeker may be criticized on these three grounds.
Now, consider the pleasure seeker who seeks wealth using illegitimate, coercive means, and who makes themselves happy and pleased, but doesn’t share it and make merit.
This pleasure seeker may be criticized on two grounds, and praised on one.
What are the two grounds for criticism?
They seek wealth using illegitimate, coercive means. This is the first ground for criticism.
They don’t share it and make merit. This is the second ground for criticism.
What is the one ground for praise?
They make themselves happy and pleased. This is the one ground for praise.
This pleasure seeker may be criticized on these two grounds, and praised on this one.
Now, consider the pleasure seeker who seeks wealth using illegitimate, coercive means, and who makes themselves happy and pleased, and shares it and makes merit.
This pleasure seeker may be criticized on one ground, and praised on two.
What is the one ground for criticism?
They seek wealth using illegitimate, coercive means. This is the one ground for criticism.
What are the two grounds for praise?
They make themselves happy and pleased. This is the first ground for praise.
They share it and make merit. This is the second ground for praise.
This pleasure seeker may be criticized on this one ground, and praised on these two.
Now, consider the pleasure seeker who seeks wealth using means both legitimate and illegitimate, and coercive and non-coercive, and who doesn’t make themselves happy and pleased, or share it and make merit.
They may be praised on one ground, and criticized on three.
What is the one ground for praise?
They seek wealth using legitimate, non-coercive means. This is the one ground for praise.
What are the three grounds for criticism?
They seek wealth using illegitimate, coercive means. This is the first ground for criticism.
They don’t make themselves happy and pleased. This is the second ground for criticism.
They don’t share it and make merit. This is the third ground for criticism.
This pleasure seeker may be praised on this one ground, and criticized on these three.
Now, consider the pleasure seeker who seeks wealth using means both legitimate and illegitimate, and coercive and non-coercive, and makes themselves happy and pleased, but doesn’t share it and make merit.
They may be praised on two grounds, and criticized on two.
What are the two grounds for praise?
They seek wealth using legitimate, non-coercive means. This is the first ground for praise.
They make themselves happy and pleased. This is the second ground for praise.
What are the two grounds for criticism?
They seek wealth using illegitimate, coercive means. This is the first ground for criticism.
They don’t share it and make merit. This is the second ground for criticism.
This pleasure seeker may be praised on these two grounds, and criticized on these two.
Now, consider the pleasure seeker who seeks wealth using means both legitimate and illegitimate, and coercive and non-coercive, and who makes themselves happy and pleased, and shares it and makes merit.
They may be praised on three grounds, and criticized on one.
What are the three grounds for praise?
They seek wealth using legitimate, non-coercive means. This is the first ground for praise.
They make themselves happy and pleased. This is the second ground for praise.
They share it and make merit. This is the third ground for praise.
What is the one ground for criticism?
They seek wealth using illegitimate, coercive means. This is the one ground for criticism.
This pleasure seeker may be praised on these three grounds, and criticized on this one.
Now, consider the pleasure seeker who seeks wealth using legitimate, non-coercive means, but who doesn’t make themselves happy and pleased, or share it and make merit.
They may be praised on one ground, and criticized on two.
What is the one ground for praise?
They seek wealth using legitimate, non-coercive means. This is the one ground for praise.
What are the two grounds for criticism?
They don’t make themselves happy and pleased. This is the first ground for criticism.
They don’t share it and make merit. This is the second ground for criticism.
This pleasure seeker may be praised on this one ground, and criticized on these two.
Now, consider the pleasure seeker who seeks wealth using legitimate, non-coercive means, and who makes themselves happy and pleased, but doesn’t share it and make merit.
This pleasure seeker may be praised on two grounds, and criticized on one.
What are the two grounds for praise?
They seek wealth using legitimate, non-coercive means. This is the first ground for praise.
They make themselves happy and pleased. This is the second ground for praise.
What is the one ground for criticism?
They don’t share it and make merit. This is the one ground for criticism.
This pleasure seeker may be praised on these two grounds, and criticized on this one.
Now, consider the pleasure seeker who seeks wealth using legitimate, non-coercive means, and who makes themselves happy and pleased, and shares it and makes merit. But they enjoy that wealth tied, infatuated, attached, blind to the drawbacks, and not understanding the escape.
They may be praised on three grounds and criticized on one.
What are the three grounds for praise?
They seek wealth using legitimate, non-coercive means. This is the first ground for praise.
They make themselves happy and pleased. This is the second ground for praise.
They share it and make merit. This is the third ground for praise.
What is the one ground for criticism?
They enjoy that wealth tied, infatuated, attached, blind to the drawbacks, and not understanding the escape. This is the one ground for criticism.
This pleasure seeker may be praised on these three grounds, and criticized on this one.
Now, consider the pleasure seeker who seeks wealth using legitimate, non-coercive means, and who makes themselves happy and pleased, and shares it and makes merit.
And they enjoy that wealth untied, uninfatuated, unattached, seeing the drawbacks, and understanding the escape.
This pleasure seeker may be praised on four grounds.
What are the four grounds for praise?
They seek wealth using legitimate, non-coercive means. This is the first ground for praise.
They make themselves happy and pleased. This is the second ground for praise.
They share it and make merit. This is the third ground for praise.
They enjoy that wealth untied, uninfatuated, unattached, seeing the drawbacks, and understanding the escape. This is the fourth ground for praise.
This pleasure seeker may be praised on these four grounds.
These three fervent mortifiers who live rough are found in the world.
What three?
Take a fervent mortifier who has gone forth out of faith from the lay life to homelessness, thinking:
‘Hopefully I will achieve a skillful quality! Hopefully I will realize a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones!’
They mortify and torment themselves. But they don’t achieve any skillful quality, or realize any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones.
Take another fervent mortifier who has gone forth out of faith from the lay life to homelessness, thinking:
‘Hopefully I will achieve a skillful quality! Hopefully I will realize a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones!’
They mortify and torment themselves. And they achieve a skillful quality, but don’t realize any superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones.
Take another fervent mortifier who has gone forth out of faith from the lay life to homelessness, thinking:
‘Hopefully I will achieve a skillful quality! Hopefully I will realize a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones!’
They mortify and torment themselves. And they achieve a skillful quality, and they realize a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones.
In this case, the first fervent mortifier may be criticized on three grounds.
What three?
They mortify and torment themselves. This is the first ground for criticism.
They don’t achieve a skillful quality. This is the second ground for criticism.
They don’t realize a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones. This is the third ground for criticism.
This fervent mortifier may be criticized on these three grounds.
In this case, the second fervent mortifier
may be criticized on two grounds, and praised on one.
What are the two grounds for criticism?
They mortify and torment themselves. This is the first ground for criticism.
They don’t realize a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones. This is the second ground for criticism.
What is the one ground for praise?
They achieve a skillful quality. This is the one ground for praise.
This fervent mortifier may be criticized on these two grounds, and praised on one.
In this case, the third fervent mortifier may be criticized on one ground, and praised on two.
What is the one ground for criticism?
They mortify and torment themselves. This is the one ground for criticism.
What are the two grounds for praise?
They achieve a skillful quality. This is the first ground for praise.
They realize a superhuman distinction in knowledge and vision worthy of the noble ones. This is the second ground for praise.
This fervent mortifier may be criticized on this one ground, and praised on two.
There are these three kinds of wearing away that are apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know them for themselves.
What three?
A greedy person, because of greed, intends to hurt themselves, hurt others, and hurt both.
When they’ve given up greed they don’t have such intentions.
This wearing away is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
A hateful person, because of hate, intends to hurt themselves, hurt others, and hurt both.
When they’ve given up hate they don’t have such intentions.
This wearing away is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
A deluded person, because of delusion, intends to hurt themselves, hurt others, and hurt both.
When they’ve given up delusion they don’t have such intentions.
This wearing away is apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know it for themselves.
These are the three kinds of wearing away that are apparent in the present life, immediately effective, inviting inspection, relevant, so that sensible people can know them for themselves.”
When he said this, Rāsiya the chief said to the Buddha,
“Excellent, sir! Excellent! …
From this day forth, may the Buddha remember me as a lay follower who has gone for refuge for life.”
Vi-n 1 …
Vi-n 2 Một thời thôn trưởng Ràsiya đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Vi-n 3 Ngồi một bên, thôn trưởng Ràsiya bạch Thế Tôn:
—Con có nghe rằng Sa-môn Gotama chỉ trích tất cả khổ hạnh, bài bác, chống báng hoàn toàn mọi người sống khổ hạnh, mọi lối sống khắc khổ. Những người nói như vậy, bạch Thế Tôn, không biết có nói đúng với lời Thế Tôn, không xuyên tạc Thế Tôn với điều không thực, trả lời thuận pháp, đúng pháp, và không một ai nói lời tương ứng đúng pháp có lý do để chỉ trích?
—Này Thôn trưởng, những ai đã nói như sau: “Sa-môn Gotama chỉ trích tất cả khổ hạnh, bài bác, chống báng hoàn toàn mọi lối sống khắc khổ”; họ nói không đúng lời Ta nói, họ xuyên tạc Ta với điều không thật, với điều không chơn chánh.
I
Vi-n 4 Có hai cực đoan mà người xuất gia không nên thực hành: Một là say đắm dục lạc đối với các dục vọng hạ liệt, đê tiện, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích. Hai là hành hạ tự thân, khổ đau, không xứng bậc Thánh, không liên hệ đến mục đích. Từ bỏ hai cực đoan này là con đường trung đạo, đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
Vi-n 5 Thế nào là con đường trung đạo ấy, này Thôn trưởng, đã được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn? Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Ðây là con đường trung đạo, này Thôn trưởng, được Như Lai giác ngộ, tác thành mắt, tác thành trí, đưa đến an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn.
II
Vi-n 6 Này Thôn trưởng, có ba hạng người hưởng thọ vật dục có mặt ở trong đời. Thế nào là ba?
Vi-n 7 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
Vi-n 8 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
Vi-n 9 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức.
Vi-n 10 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
Vi-n 11 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
Vi-n 12 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ, làm các công đức.
Vi-n 13 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp, không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
Vi-n 14 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức.
Vi-n 15 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ, và làm các công đức. Nhưng người ấy hưởng thọ với tâm tham trước, đắm say, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, không với trí tuệ xuất ly.
Vi-n 16 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Nhưng người ấy hưởng thọ với tâm không tham trước, không say đắm, không phạm tội, thấy sự nguy hiểm và với trí huệ xuất ly.
III
Vi-n 17 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện bị chỉ trích. Về ba phương diện nào bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không vui sướng, không hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.
Này Thôn trưởng, người hưởng thọ vật dục này về ba phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 18 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, nhưng không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán. Về hai phương diện gì bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Về một phương diện gì người ấy được tán thán? Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện này, người ấy được tán thán.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán.
Vi-n 19 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui vẻ, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán. Về một phương diện gì người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích. Về phương diện gì người ấy được tán thán? Người ấy tự mình vui vẻ, hoan hỷ, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán.
Vi-n 20 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về ba phương diện bị chỉ trích. Một phương diện gì được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện này, người ấy được tán thán. Về ba phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản một cách phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không tự mình vui sướng, không hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về ba phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 21 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản một cách hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, tự mình vui sướng, hoan hỷ, nhưng không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích. Về hai phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Về hai phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 22 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và phi pháp, dùng sức mạnh và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích. Về ba phương diện nào được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán. Thế nào là một phương diện người ấy bị chỉ trích? Người ấy tìm cầu tài sản phi pháp và dùng sức mạnh, về một phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 23 Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, này Thôn trưởng, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy không tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ và không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích. Về một phương diện nào được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện này, người ấy được tán thán. Về hai phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy không tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về một phương diện được tán thán, về hai phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 24 Ở đây, có người hưởng thọ vật dục, này Thôn trưởng, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, không san sẻ, không làm các công đức. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích. Về hai phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Về một phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy không san sẻ, không làm các công đức, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về hai phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 25 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người ấy hưởng thọ các tài sản một cách tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, với trí tuệ không xuất ly. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích. Về ba phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán. Về một phương diện nào người ấy bị chỉ trích? Người ấy hưởng thọ các tài sản ấy với tâm tham trước, say đắm, phạm tội, không thấy sự nguy hiểm, với trí tuệ không xuất ly, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về ba phương diện được tán thán, về một phương diện bị chỉ trích.
Vi-n 26 Ở đây, này Thôn trưởng, có người hưởng thọ vật dục, tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh. Sau khi tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, san sẻ và làm các công đức. Người ấy hưởng thọ các tài sản ấy, không có tham trước, không có say đắm, không có phạm tội, thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ xuất ly. Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về bốn phương diện được tán thán. Về bốn phương diện nào được tán thán? Người ấy tìm cầu tài sản hợp pháp và không dùng sức mạnh, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy tự mình vui sướng, hoan hỷ, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán. Người ấy san sẻ và làm các công đức, về phương diện thứ ba này, người ấy được tán thán. Người ấy hưởng thọ tài sản ấy không có tham trước, không có say đắm, không có phạm tội, thấy sự nguy hiểm và với trí tuệ xuất ly, về phương diện thứ tư này, người ấy được tán thán.
Người hưởng thọ vật dục này, này Thôn trưởng, về bốn phương diện được tán thán.
IV
Vi-n 27 Này Thôn trưởng, có ba hạng người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, có mặt hiện sống ở đời.
Vi-n 28 Này Thôn trưởng, có hạng người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, do lòng tin đã xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình. Vị ấy nghĩ rằng: “Mong rằng ta chứng được thiện pháp; mong rằng ta chứng ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!”. Vị ấy tự mình hành xác, hành khổ, nhưng không chứng được thiện pháp nào; không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh nào.
Vi-n 29 Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ rằng: “Mong rằng ta chứng được thiện pháp; mong rằng ta chứng ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!”. Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp; nhưng không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.
Vi-n 30 Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, nghĩ rằng: “Mong rằng ta chứng được thiện pháp; mong rằng ta chứng ngộ các Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh!” Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp; chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.
V
Vi-n 31 Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, không chứng được thiện pháp; không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về ba phương diện bị chỉ trích. Thế nào là về ba phương diện bị chỉ trích? Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không chứng đắc thiện pháp, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ ba này, người ấy bị chỉ trích.
Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về ba phương diện này bị chỉ trích.
Vi-n 32 Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp, nhưng không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán. Thế nào là về hai phương diện người ấy bị chỉ trích? Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện thứ nhất này, người ấy bị chỉ trích. Người ấy không chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ hai này, người ấy bị chỉ trích. Thế nào là về một phương diện người ấy được tán thán? Người ấy chứng được thiện pháp, về phương diện này, người ấy được tán thán.
Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về hai phương diện bị chỉ trích, về một phương diện được tán thán.
Vi-n 33 Ở đây, này Thôn trưởng, có người tu khổ hạnh, sống khắc khổ, tự mình hành xác, hành khổ, chứng được thiện pháp, và chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán. Về một phương diện nào bị chỉ trích? Người ấy tự mình hành xác, hành khổ, về phương diện này, người ấy bị chỉ trích. Về hai phương diện nào người ấy được tán thán? Người ấy chứng được thiện pháp, về phương diện thứ nhất này, người ấy được tán thán. Người ấy chứng ngộ Thượng nhân pháp, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh, về phương diện thứ hai này, người ấy được tán thán.
Người tu khổ hạnh, sống khắc khổ này, này Thôn trưởng, về một phương diện bị chỉ trích, về hai phương diện được tán thán.
VI
Vi-n 34 Này Thôn trưởng, có ba pháp thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Thế nào là ba?
Vi-n 35 Phàm người tham dục (ràga), do nhân tham dục, nghĩ đến tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi tham dục được đoạn tận, người ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai. Như vậy, những pháp này thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 36 Phàm người sân hận, do nhân sân hận, nghĩ đến tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi sân hận được đoạn tận, người ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai. Như vậy, những pháp này thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 37 Phàm người si mê, do nhân si mê, nghĩ đến tự hại, nghĩ đến hại người khác, nghĩ đến hại cả hai. Khi si mê được đoạn tận, vị ấy không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người khác, không nghĩ đến hại cả hai. Như vậy, những pháp này thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Ba pháp này, này Thôn trưởng, thiết thực hiện tại, không có già lão, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu.
Vi-n 38 Khi được nghe nói vậy, thôn trưởng Ràsiya bạch Thế Tôn:
—Thật là vi diệu, bạch Thế Tôn! … từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng!
Atha kho rāsiyo gāmaṇi yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho rāsiyo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“sutaṁ metaṁ, bhante, ‘samaṇo gotamo sabbaṁ tapaṁ garahati, sabbaṁ tapassiṁ lūkhajīviṁ ekaṁsena upavadati upakkosatī’ti.
Ye te, bhante, evamāhaṁsu: ‘samaṇo gotamo sabbaṁ tapaṁ garahati, sabbaṁ tapassiṁ lūkhajīviṁ ekaṁsena upavadati upakkosatī’ti, kacci te, bhante, bhagavato vuttavādino, na ca bhagavantaṁ abhūtena abbhācikkhanti, dhammassa cānudhammaṁ byākaronti, na ca koci sahadhammiko vādānuvādo gārayhaṁ ṭhānaṁ āgacchatī”ti?
“Ye te, gāmaṇi, evamāhaṁsu: ‘samaṇo gotamo sabbaṁ tapaṁ garahati, sabbaṁ tapassiṁ lūkhajīviṁ ekaṁsena upavadati upakkosatī’ti, na me te vuttavādino, abbhācikkhanti ca pana maṁ te asatā tucchā abhūtena.
Dveme, gāmaṇi, antā pabbajitena na sevitabbā—
yo cāyaṁ kāmesu kāmasukhallikānuyogo hīno gammo pothujjaniko anariyo anatthasaṁhito, yo cāyaṁ attakilamathānuyogo dukkho anariyo anatthasaṁhito.
Ete te, gāmaṇi, ubho ante anupagamma majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā—cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Katamā ca sā, gāmaṇi, majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā—cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati?
Ayameva ariyo aṭṭhaṅgiko maggo, seyyathidaṁ—
sammādiṭṭhi …pe… sammāsamādhi.
Ayaṁ kho sā, gāmaṇi, majjhimā paṭipadā tathāgatena abhisambuddhā—cakkhukaraṇī ñāṇakaraṇī upasamāya abhiññāya sambodhāya nibbānāya saṁvattati.
Tayo kho me, gāmaṇi, kāmabhogino santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame tayo?
Idha, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī adhammena bhoge pariyesati, sāhasena adhammena bhoge pariyesitvā sāhasena na attānaṁ sukheti na pīṇeti na saṁvibhajati na puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī adhammena bhoge pariyesati sāhasena.
Adhammena bhoge pariyesitvā sāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti, na saṁvibhajati na puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī adhammena bhoge pariyesati sāhasena.
Adhammena bhoge pariyesitvā sāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammādhammena bhoge pariyesati sāhasenapi asāhasenapi.
Dhammādhammena bhoge pariyesitvā sāhasenapi asāhasenapi na attānaṁ sukheti, na pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammādhammena bhoge pariyesati sāhasenapi asāhasenapi.
Dhammādhammena bhoge pariyesitvā sāhasenapi asāhasenapi attānaṁ sukheti pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammādhammena bhoge pariyesati, sāhasenapi asāhasenapi.
Dhammādhammena bhoge pariyesitvā sāhasenapi asāhasenapi attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena.
Dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena na attānaṁ sukheti, na pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena.
Dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena.
Dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Te ca bhoge gadhito mucchito ajjhopanno anādīnavadassāvī anissaraṇapañño paribhuñjati.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena.
Dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Te ca bhoge agadhito amucchito anajjhopanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī adhammena bhoge pariyesati sāhasena, adhammena bhoge pariyesitvā sāhasena na attānaṁ sukheti, na pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī tīhi ṭhānehi gārayho.
Katamehi tīhi ṭhānehi gārayho?
Adhammena bhoge pariyesati sāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Na attānaṁ sukheti na pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Na saṁvibhajati, na puññāni karotīti, iminā tatiyena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi tīhi ṭhānehi gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī adhammena bhoge pariyesati sāhasena, adhammena bhoge pariyesitvā sāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī dvīhi ṭhānehi gārayho, ekena ṭhānena pāsaṁso.
Katamehi dvīhi ṭhānehi gārayho?
Adhammena bhoge pariyesati sāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Na saṁvibhajati, na puññāni karotīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Katamena ekena ṭhānena pāsaṁso?
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā ekena ṭhānena pāsaṁso.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi dvīhi ṭhānehi gārayho, iminā ekena ṭhānena pāsaṁso.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī adhammena bhoge pariyesati sāhasena, adhammena bhoge pariyesitvā sāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī ekena ṭhānena gārayho, dvīhi ṭhānehi pāsaṁso.
Katamena ekena ṭhānena gārayho?
Adhammena bhoge pariyesati sāhasenāti, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Katamehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso?
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Saṁvibhajati puññāni karotīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī, iminā ekena ṭhānena gārayho, imehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammādhammena bhoge pariyesati sāhasenapi asāhasenapi, dhammādhammena bhoge pariyesitvā sāhasenapi asāhasenapi na attānaṁ sukheti, na pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī ekena ṭhānena pāsaṁso, tīhi ṭhānehi gārayho.
Katamena ekena ṭhānena pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā ekena ṭhānena pāsaṁso.
Katamehi tīhi ṭhānehi gārayho?
Adhammena bhoge pariyesati sāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Na attānaṁ sukheti, na pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Na saṁvibhajati, na puññāni karotīti, iminā tatiyena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī iminā ekena ṭhānena pāsaṁso, imehi tīhi ṭhānehi gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammādhammena bhoge pariyesati sāhasenapi asāhasenapi, dhammādhammena bhoge pariyesitvā sāhasenapi asāhasenapi attānaṁ sukheti pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī dvīhi ṭhānehi pāsaṁso, dvīhi ṭhānehi gārayho.
Katamehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Katamehi dvīhi ṭhānehi gārayho?
Adhammena bhoge pariyesati sāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Na saṁvibhajati, na puññāni karotīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso, imehi dvīhi ṭhānehi gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammādhammena bhoge pariyesati sāhasenapi asāhasenapi, dhammādhammena bhoge pariyesitvā sāhasenapi asāhasenapi attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī tīhi ṭhānehi pāsaṁso, ekena ṭhānena gārayho.
Katamehi tīhi ṭhānehi pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Saṁvibhajati puññāni karotīti, iminā tatiyena ṭhānena pāsaṁso.
Katamena ekena ṭhānena gārayho?
Adhammena bhoge pariyesati sāhasenāti, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi tīhi ṭhānehi pāsaṁso, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena, dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena, na attānaṁ sukheti, na pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī ekena ṭhānena pāsaṁso, dvīhi ṭhānehi gārayho.
Katamena ekena ṭhānena pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā ekena ṭhānena pāsaṁso.
Katamehi dvīhi ṭhānehi gārayho?
Na attānaṁ sukheti, na pīṇetīti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Na saṁvibhajati, na puññāni karotīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī iminā ekena ṭhānena pāsaṁso, imehi dvīhi ṭhānehi gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena, dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti, na saṁvibhajati, na puññāni karoti.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī dvīhi ṭhānehi pāsaṁso, ekena ṭhānena gārayho.
Katamehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Katamena ekena ṭhānena gārayho?
Na saṁvibhajati, na puññāni karotīti, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena, dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti, te ca bhoge gadhito mucchito ajjhopanno anādīnavadassāvī anissaraṇapañño paribhuñjati.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī tīhi ṭhānehi pāsaṁso, ekena ṭhānena gārayho.
Katamehi tīhi ṭhānehi pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Saṁvibhajati puññāni karotīti, iminā tatiyena ṭhānena pāsaṁso.
Katamena ekena ṭhānena gārayho?
Te ca bhoge gadhito mucchito ajjhopanno anādīnavadassāvī anissaraṇapañño paribhuñjatīti, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi tīhi ṭhānehi pāsaṁso, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ kāmabhogī dhammena bhoge pariyesati asāhasena, dhammena bhoge pariyesitvā asāhasena attānaṁ sukheti pīṇeti saṁvibhajati puññāni karoti.
Te ca bhoge agadhito amucchito anajjhopanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjati.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī catūhi ṭhānehi pāsaṁso.
Katamehi catūhi ṭhānehi pāsaṁso?
Dhammena bhoge pariyesati asāhasenāti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Attānaṁ sukheti pīṇetīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Saṁvibhajati puññāni karotīti, iminā tatiyena ṭhānena pāsaṁso.
Te ca bhoge agadhito amucchito anajjhopanno ādīnavadassāvī nissaraṇapañño paribhuñjatīti, iminā catutthena ṭhānena pāsaṁso.
Ayaṁ, gāmaṇi, kāmabhogī imehi catūhi ṭhānehi pāsaṁso.
Tayome, gāmaṇi, tapassino lūkhajīvino santo saṁvijjamānā lokasmiṁ.
Katame tayo?
Idha, gāmaṇi, ekacco tapassī lūkhajīvī saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti:
‘appeva nāma kusalaṁ dhammaṁ adhigaccheyyaṁ, appeva nāma uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikareyyan’ti.
So attānaṁ ātāpeti paritāpeti, kusalañca dhammaṁ nādhigacchati, uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ na sacchikaroti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco tapassī lūkhajīvī saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti:
‘appeva nāma kusalaṁ dhammaṁ adhigaccheyyaṁ, appeva nāma uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikareyyan’ti.
So attānaṁ ātāpeti paritāpeti, kusalañhi kho dhammaṁ adhigacchati, uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ na sacchikaroti.
Idha pana, gāmaṇi, ekacco tapassī lūkhajīvī saddhā agārasmā anagāriyaṁ pabbajito hoti:
‘appeva nāma kusalaṁ dhammaṁ adhigaccheyyaṁ, appeva nāma uttari manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikareyyan’ti.
So attānaṁ ātāpeti paritāpeti, kusalañca dhammaṁ adhigacchati, uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikaroti.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ tapassī lūkhajīvī attānaṁ ātāpeti paritāpeti, kusalañca dhammaṁ nādhigacchati, uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ na sacchikaroti. Ayaṁ, gāmaṇi, tapassī lūkhajīvī tīhi ṭhānehi gārayho.
Katamehi tīhi ṭhānehi gārayho?
Attānaṁ ātāpeti paritāpetīti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Kusalañca dhammaṁ nādhigacchatīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ na sacchikarotīti, iminā tatiyena ṭhānena gārayho.
Ayaṁ, gāmaṇi, tapassī lūkhajīvī, imehi tīhi ṭhānehi gārayho.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ tapassī lūkhajīvī attānaṁ ātāpeti paritāpeti, kusalañhi kho dhammaṁ adhigacchati, uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ na sacchikaroti.
Ayaṁ, gāmaṇi, tapassī lūkhajīvī dvīhi ṭhānehi gārayho, ekena ṭhānena pāsaṁso.
Katamehi dvīhi ṭhānehi gārayho?
Attānaṁ ātāpeti paritāpetīti, iminā paṭhamena ṭhānena gārayho.
Uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ na sacchikarotīti, iminā dutiyena ṭhānena gārayho.
Katamena ekena ṭhānena pāsaṁso?
Kusalañhi kho dhammaṁ adhigacchatīti, iminā ekena ṭhānena pāsaṁso.
Ayaṁ, gāmaṇi, tapassī lūkhajīvī imehi dvīhi ṭhānehi gārayho, iminā ekena ṭhānena pāsaṁso.
Tatra, gāmaṇi, yvāyaṁ tapassī lūkhajīvī attānaṁ ātāpeti paritāpeti, kusalañca dhammaṁ adhigacchati, uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikaroti. Ayaṁ, gāmaṇi, tapassī lūkhajīvī ekena ṭhānena gārayho, dvīhi ṭhānehi pāsaṁso.
Katamena ekena ṭhānena gārayho?
Attānaṁ ātāpeti paritāpetīti, iminā ekena ṭhānena gārayho.
Katamehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso?
Kusalañca dhammaṁ adhigacchatīti, iminā paṭhamena ṭhānena pāsaṁso.
Uttari ca manussadhammā alamariyañāṇadassanavisesaṁ sacchikarotīti, iminā dutiyena ṭhānena pāsaṁso.
Ayaṁ, gāmaṇi, tapassī lūkhajīvī iminā ekena ṭhānena gārayho, imehi dvīhi ṭhānehi pāsaṁso.
Tisso imā, gāmaṇi, sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Katamā tisso?
Yaṁ ratto rāgādhikaraṇaṁ attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti.
Rāge pahīne nevattabyābādhāya ceteti, na parabyābādhāya ceteti, na ubhayabyābādhāya ceteti.
Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Yaṁ duṭṭho dosādhikaraṇaṁ attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti.
Dose pahīne nevattabyābādhāya ceteti, na parabyābādhāya ceteti, na ubhayabyābādhāya ceteti.
Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Yaṁ mūḷho mohādhikaraṇaṁ attabyābādhāyapi ceteti, parabyābādhāyapi ceteti, ubhayabyābādhāyapi ceteti.
Mohe pahīne nevattabyābādhāya ceteti, na parabyābādhāya ceteti, na ubhayabyābādhāya ceteti.
Sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhi.
Imā kho, gāmaṇi, tisso sandiṭṭhikā nijjarā akālikā ehipassikā opaneyyikā paccattaṁ veditabbā viññūhī”ti.
Evaṁ vutte, rāsiyo gāmaṇi bhagavantaṁ etadavoca:
“abhikkantaṁ, bhante …pe…
upāsakaṁ maṁ bhagavā dhāretu ajjatagge pāṇupetaṁ saraṇaṁ gatan”ti.
Dvādasamaṁ.