Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthī…
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến… bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, để sau khi nghe pháp, con sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 4 —Ông nghĩ thế nào, này Ānanda, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 5-8 —Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 9 Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā …pe… bhagavantaṁ etadavoca:
“sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, ānanda,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Dasamaṁ.
Diṭṭhivaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Ajjhattikaṁ etaṁmama,
Soattā nocamesiyā;
Micchāsakkāyattānu dve,
Abhinivesā ānandenāti.
Uparipaṇṇāsako samatto.
Tassa uparipaṇṇāsakassa vagguddānaṁ
Anto dhammakathikā vijjā,
kukkuḷaṁ diṭṭhipañcamaṁ;
Tatiyo paṇṇāsako vutto,
nipātoti pavuccatīti.
Khandhasaṁyuttaṁ samattaṁ.
At Sāvatthī.
Then Venerable Ānanda went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and said to him:
“Sir, may the Buddha please teach me Dhamma in brief. When I’ve heard it, I’ll live alone, withdrawn, diligent, keen, and resolute.”
“What do you think, Ānanda?
Is form permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.”
“Is feeling …
perception …
choices …
consciousness permanent or impermanent?”
“Impermanent, sir.”
“But if it’s impermanent, is it suffering or happiness?”
“Suffering, sir.”
“But if it’s impermanent, suffering, and perishable, is it fit to be regarded thus:
‘This is mine, I am this, this is my self’?”
“No, sir.” …
“Seeing this …
They understand: ‘… there is nothing further for this place.’”
The Linked Discourses on the aggregates are complete.
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthī…
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Ānanda đi đến Thế Tôn; sau khi đến… bạch Thế Tôn:
Vi-n 3 —Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp vắn tắt cho con, để sau khi nghe pháp, con sống một mình an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
Vi-n 4 —Ông nghĩ thế nào, này Ānanda, sắc là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng nếu quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 5-8 —Thọ… Tưởng… Các hành… Thức là thường hay vô thường?
—Là vô thường, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
—Là khổ, bạch Thế Tôn.
—Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: “Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi”?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 9 Do thấy vậy… vị ấy biết rõ… “… không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthinidānaṁ.
Atha kho āyasmā ānando yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā …pe… bhagavantaṁ etadavoca:
“sādhu me, bhante, bhagavā saṅkhittena dhammaṁ desetu, yamahaṁ bhagavato dhammaṁ sutvā eko vūpakaṭṭho appamatto ātāpī pahitatto vihareyyan”ti.
“Taṁ kiṁ maññasi, ānanda,
rūpaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ niccaṁ vā aniccaṁ vā”ti?
“Aniccaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vā taṁ sukhaṁ vā”ti?
“Dukkhaṁ, bhante”.
“Yaṁ panāniccaṁ dukkhaṁ vipariṇāmadhammaṁ, kallaṁ nu taṁ samanupassituṁ:
‘etaṁ mama, esohamasmi, eso me attā’”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Evaṁ passaṁ …pe…
nāparaṁ itthattāyāti pajānātī”ti.
Dasamaṁ.
Diṭṭhivaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Ajjhattikaṁ etaṁmama,
Soattā nocamesiyā;
Micchāsakkāyattānu dve,
Abhinivesā ānandenāti.
Uparipaṇṇāsako samatto.
Tassa uparipaṇṇāsakassa vagguddānaṁ
Anto dhammakathikā vijjā,
kukkuḷaṁ diṭṭhipañcamaṁ;
Tatiyo paṇṇāsako vutto,
nipātoti pavuccatīti.
Khandhasaṁyuttaṁ samattaṁ.