Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, cái gì chúng ta tư niệm, cái gì chúng ta tư lường, cái gì chúng ta có thầm ý, cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên có mặt nên thức an trú.
Vi-n 3 Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có thiên về, hướng về (hệ trước: nati). Do có thiên về, hướng về nên có sự đi đến tái sanh. Do có sự đi đến tái sanh nên có từ bỏ và sanh khởi. Do có từ bỏ và sanh khởi nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, không có tư lường, nhưng chỉ có thầm ý, thời cái ấy là sở duyên cho thức an trú. Do sự có mặt của sở duyên nên thức an trú.
Vi-n 5 Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có thiên về, hướng về. Do có thiên về, hướng về nên có sự đi đến tái sanh. Do có sự đi đến tái sanh nên có từ bỏ và sanh khởi. Do có từ bỏ và sanh khởi, nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên không có mặt nên thức không có an trú.
Vi-n 7 Do thức ấy không an trú, không tăng trưởng nên không có thiên về, hướng về. Do không có thiên về, hướng về nên không có đi đến tái sanh. Do không có sự đi đến tái sanh nên không có từ bỏ và sanh khởi. Do không có từ bỏ và sanh khởi nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Yañca, bhikkhave, ceteti yañca pakappeti yañca anuseti ārammaṇametaṁ hoti viññāṇassa ṭhitiyā.
Ārammaṇe sati patiṭṭhā viññāṇassa hoti.
Tasmiṁ patiṭṭhite viññāṇe virūḷhe nati hoti.
Natiyā sati āgatigati hoti.
Āgatigatiyā sati cutūpapāto hoti.
Cutūpapāte sati āyatiṁ jāti jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
No ce, bhikkhave, ceteti no ce pakappeti atha ce anuseti, ārammaṇametaṁ hoti viññāṇassa ṭhitiyā.
Ārammaṇe sati patiṭṭhā viññāṇassa hoti.
Tasmiṁ patiṭṭhite viññāṇe virūḷhe nati hoti.
Natiyā sati āgatigati hoti.
Āgatigatiyā sati cutūpapāto hoti.
Cutūpapāte sati āyatiṁ jāti jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Yato ca kho, bhikkhave, no ceva ceteti no ca pakappeti no ca anuseti, ārammaṇametaṁ na hoti viññāṇassa ṭhitiyā.
Ārammaṇe asati patiṭṭhā viññāṇassa na hoti.
Tadappatiṭṭhite viññāṇe avirūḷhe nati na hoti.
Natiyā asati āgatigati na hoti.
Āgatigatiyā asati cutūpapāto na hoti.
Cutūpapāte asati āyatiṁ jāti jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
Dasamaṁ.
Kaḷārakhattiyavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Bhūtamidaṁ kaḷārañca,
duve ca ñāṇavatthūni;
Avijjāpaccayā ca dve,
natumhā cetanā tayoti.
SC 1At Savatthī. sn.ii.67 “Bhikkhus, what one intends, and what one plans, and whatever one has a tendency towards: this becomes a basis for the maintenance of consciousness. When there is a basis, there is a support for the establishing of consciousness. When consciousness is established and has come to growth, there is inclination. When there is inclination, there is coming and going. When there is coming and going, there is passing away and being reborn. When there is passing away and being reborn, future birth, aging-and-death, sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair come to be. Such is the origin of this whole mass of suffering.
SC 2“If, bhikkhus, one does not intend, and one does not plan, but one still has a tendency towards something, this becomes a basis for the maintenance of consciousness. When there is a basis, there is a support for the establishing of consciousness…. Such is the origin of this whole mass of suffering.
SC 3“But, bhikkhus, when one does not intend, and one does not plan, and one does not have a tendency towards anything, no basis exists for the maintenance of consciousness. When there is no basis, there is no support for the establishing of consciousness. When consciousness is unestablished and does not come to growth, there is no inclination. When there is no inclination, there is no coming and going. When there is no coming and going, there is no passing away and being reborn. When there is no passing away and being reborn, future birth, aging-and-death, sorrow, lamentation, pain, displeasure, and despair cease. Such is the cessation of this whole mass of suffering.”
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Này các Tỷ-kheo, cái gì chúng ta tư niệm, cái gì chúng ta tư lường, cái gì chúng ta có thầm ý, cái ấy trở thành sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên có mặt nên thức an trú.
Vi-n 3 Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có thiên về, hướng về (hệ trước: nati). Do có thiên về, hướng về nên có sự đi đến tái sanh. Do có sự đi đến tái sanh nên có từ bỏ và sanh khởi. Do có từ bỏ và sanh khởi nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, không có tư lường, nhưng chỉ có thầm ý, thời cái ấy là sở duyên cho thức an trú. Do sự có mặt của sở duyên nên thức an trú.
Vi-n 5 Do thức ấy an trú và tăng trưởng nên có thiên về, hướng về. Do có thiên về, hướng về nên có sự đi đến tái sanh. Do có sự đi đến tái sanh nên có từ bỏ và sanh khởi. Do có từ bỏ và sanh khởi, nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, nếu không có tư niệm, tư lường, không có thầm ý, thời không có sở duyên cho thức an trú. Do sở duyên không có mặt nên thức không có an trú.
Vi-n 7 Do thức ấy không an trú, không tăng trưởng nên không có thiên về, hướng về. Do không có thiên về, hướng về nên không có đi đến tái sanh. Do không có sự đi đến tái sanh nên không có từ bỏ và sanh khởi. Do không có từ bỏ và sanh khởi nên trong tương lai sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Yañca, bhikkhave, ceteti yañca pakappeti yañca anuseti ārammaṇametaṁ hoti viññāṇassa ṭhitiyā.
Ārammaṇe sati patiṭṭhā viññāṇassa hoti.
Tasmiṁ patiṭṭhite viññāṇe virūḷhe nati hoti.
Natiyā sati āgatigati hoti.
Āgatigatiyā sati cutūpapāto hoti.
Cutūpapāte sati āyatiṁ jāti jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
No ce, bhikkhave, ceteti no ce pakappeti atha ce anuseti, ārammaṇametaṁ hoti viññāṇassa ṭhitiyā.
Ārammaṇe sati patiṭṭhā viññāṇassa hoti.
Tasmiṁ patiṭṭhite viññāṇe virūḷhe nati hoti.
Natiyā sati āgatigati hoti.
Āgatigatiyā sati cutūpapāto hoti.
Cutūpapāte sati āyatiṁ jāti jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā sambhavanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa samudayo hoti.
Yato ca kho, bhikkhave, no ceva ceteti no ca pakappeti no ca anuseti, ārammaṇametaṁ na hoti viññāṇassa ṭhitiyā.
Ārammaṇe asati patiṭṭhā viññāṇassa na hoti.
Tadappatiṭṭhite viññāṇe avirūḷhe nati na hoti.
Natiyā asati āgatigati na hoti.
Āgatigatiyā asati cutūpapāto na hoti.
Cutūpapāte asati āyatiṁ jāti jarāmaraṇaṁ sokaparidevadukkhadomanassupāyāsā nirujjhanti.
Evametassa kevalassa dukkhakkhandhassa nirodho hotī”ti.
Dasamaṁ.
Kaḷārakhattiyavaggo catuttho.
Tassuddānaṁ
Bhūtamidaṁ kaḷārañca,
duve ca ñāṇavatthūni;
Avijjāpaccayā ca dve,
natumhā cetanā tayoti.