Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Anga, tại thị trấn của dân chúng Anga tên là Apāna.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sāriputta:
—Này Sāriputta, có vị Thánh đệ tử nào đi đến nhứt tâm và hoàn toàn tin tưởng ở Như Lai; vị ấy có thể có phân vân hay nghi ngờ đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như Lai?
Vi-n 3 —Vị Thánh đệ tử nào, bạch Thế Tôn, đi đến nhứt tâm và hoàn toàn tin tưởng ở Như Lai; vị ấy không có thể phân vân hay nghi ngờ đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như Lai. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin, được chờ đợi rằng: Vị ấy sẽ trú tinh cần, tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện, để làm sanh khởi các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, tinh tấn, không có quăng bỏ gánh nặng đối với thiện pháp.
Vi-n 4 Sự tinh tấn của vị ấy, bạch Thế Tôn, là tấn căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin và tinh cần, tinh tấn, bạch Thế Tôn, được chờ đợi rằng: Vị ấy có niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức niệm, tùy niệm những điều làm đã lâu, nói đã lâu ngày.
Vi-n 5 Sự niệm của vị ấy, bạch Thế Tôn, là niệm căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin, tinh cần, tinh tấn, với niệm được an trú, bạch Thế Tôn, được chờ đợi rằng: Sau khi từ bỏ pháp sở duyên, vị ấy sẽ được định, được nhứt tâm.
Vi-n 6 Ðịnh của vị ấy, bạch Thế Tôn, là định căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin, an trú chánh niệm, với tâm Thiền định, bạch Thế Tôn, được chờ đợi như sau: Vị ấy rõ biết rằng vô thỉ là luân hồi, khởi điểm đầu tiên không thể chỉ rõ. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị khát ái trói buộc, lưu chuyển luân hồi. Sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn, ổ nhóm u ám ấy, là tịch tịnh của vị này, là thù thắng của vị này, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn tận tham ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn.
Vi-n 7 Trí tuệ của vị ấy, bạch Thế Tôn, là tuệ căn của vị ấy. Vị Thánh đệ tử có lòng tin ấy, tinh tấn, tinh cần như vậy; ức niệm, ức niệm như vậy; định tĩnh, định tĩnh như vậy; rõ biết, rõ biết như vậy; lòng thâm tín như sau sanh khởi: “Những pháp này mà trước kia ta từng được nghe, nay ta trú, tự thân chứng đạt những pháp ấy. Nay với trí tuệ, ta thể nhập chúng, ta thấy chúng rõ ràng”.
Vi-n 8 Lòng tin của vị ấy, bạch Thế Tôn, là tín căn của vị ấy.
Vi-n 9 —Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Vị Thánh đệ tử nào, này Sāriputta, đi đến nhứt tâm và hoàn toàn tin tưởng ở Như Lai; vị ấy không có phân vân, không có nghi ngờ gì đối với Như Lai, hay đối với lời dạy của Như Lai. Vị Thánh đệ tử nào có lòng tin, này Sāriputta, được chờ đợi như sau: Vị ấy sẽ trú tinh cần, tinh tấn, để đoạn tận các pháp bất thiện, để làm sanh khởi các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì tinh tấn, không quăng bỏ gánh nặng đối với thiện pháp.
Vi-n 10-13. Sự tinh tấn của vị ấy, này Sāriputta, là tấn căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin và tinh cần, tinh tấn, này Sāriputta … Vị Thánh đệ tử có lòng tin ấy, tinh cần, tinh tấn như vậy; rõ biết, rõ biết như vậy; lòng thâm tín như sau sanh khởi: “Những pháp này trước kia ta từng được nghe, nay ta trú, tự thân chứng đạt những pháp ấy. Nay với trí tuệ, ta thể nhập chúng, ta thấy chúng rõ ràng”.
Vi-n 14 Lòng tin của vị ấy, này Sāriputta, tức là tín căn của vị ấy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā aṅgesu viharati āpaṇaṁ nāma aṅgānaṁ nigamo.
Tatra kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
“yo so, sāriputta, ariyasāvako tathāgate ekantagato abhippasanno, na so tathāgate vā tathāgatasāsane vā kaṅkheyya vā vicikiccheyya vā”ti?
“Yo so, bhante, ariyasāvako tathāgate ekantagato abhippasanno, na so tathāgate vā tathāgatasāsane vā kaṅkheyya vā vicikiccheyya vā.
saddhassa hi, bhante, ariyasāvakassa etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ āraddhavīriyo viharissati—akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Yaṁ hissa, bhante, vīriyaṁ tadassa vīriyindriyaṁ.
Saddhassa hi, bhante, ariyasāvakassa āraddhavīriyassa etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ satimā bhavissati, paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā.
Yā hissa, bhante, sati tadassa satindriyaṁ.
Saddhassa hi, bhante, ariyasāvakassa āraddhavīriyassa upaṭṭhitassatino etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ vossaggārammaṇaṁ karitvā labhissati samādhiṁ, labhissati cittassa ekaggataṁ.
Yo hissa, bhante, samādhi tadassa samādhindriyaṁ.
Saddhassa hi, bhante, ariyasāvakassa āraddhavīriyassa upaṭṭhitassatino samāhitacittassa etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ evaṁ pajānissati—
anamataggo kho saṁsāro.
Pubbakoṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ.
Avijjāya tveva tamokāyassa asesavirāganirodho santametaṁ padaṁ paṇītametaṁ padaṁ, yadidaṁ—
sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ.
Yā hissa, bhante, paññā tadassa paññindriyaṁ.
Saddho so, bhante, ariyasāvako evaṁ padahitvā padahitvā evaṁ saritvā saritvā evaṁ samādahitvā samādahitvā evaṁ pajānitvā pajānitvā evaṁ abhisaddahati:
‘ime kho te dhammā ye me pubbe sutavā ahesuṁ.
Tenāhaṁ etarahi kāyena ca phusitvā viharāmi, paññāya ca ativijjha passāmī’ti.
Yā hissa, bhante, saddhā tadassa saddhindriyan”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Yo so, sāriputta, ariyasāvako tathāgate ekantagato abhippasanno, na so tathāgate vā tathāgatasāsane vā kaṅkheyya vā vicikiccheyya vā.
Saddhassa hi, sāriputta, ariyasāvakassa etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ āraddhavīriyo viharissati—
akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Yaṁ hissa, sāriputta, vīriyaṁ tadassa vīriyindriyaṁ.
Saddhassa hi, sāriputta, ariyasāvakassa āraddhavīriyassa etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ satimā bhavissati, paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā.
Yā hissa, sāriputta, sati tadassa satindriyaṁ.
Saddhassa hi, sāriputta, ariyasāvakassa āraddhavīriyassa upaṭṭhitassatino etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ vossaggārammaṇaṁ karitvā labhissati samādhiṁ, labhissati cittassa ekaggataṁ.
Yo hissa, sāriputta, samādhi tadassa samādhindriyaṁ.
Saddhassa hi, sāriputta, ariyasāvakassa āraddhavīriyassa upaṭṭhitassatino samāhitacittassa etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ evaṁ pajānissati—
anamataggo kho saṁsāro.
Pubbakoṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ.
Avijjāya tveva tamokāyassa asesavirāganirodho santametaṁ padaṁ paṇītametaṁ padaṁ, yadidaṁ—
sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ.
Yā hissa, sāriputta, paññā tadassa paññindriyaṁ.
Saddho so, sāriputta, ariyasāvako evaṁ padahitvā padahitvā evaṁ saritvā saritvā evaṁ samādahitvā samādahitvā evaṁ pajānitvā pajānitvā evaṁ abhisaddahati:
‘ime kho te dhammā ye me pubbe sutavā ahesuṁ.
Tenāhaṁ etarahi kāyena ca phusitvā viharāmi, paññāya ca ativijjha passāmī’ti.
Yā hissa, sāriputta, saddhā tadassa saddhindriyan”ti.
Dasamaṁ.
Jarāvaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Jarā uṇṇābho brāhmaṇo,
sāketo pubbakoṭṭhako;
Pubbārāme ca cattāri,
piṇḍolo āpaṇena cāti.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying in the land of the Aṅgas, near the Aṅgan town named Āpaṇa.
Then the Buddha said to Venerable Sāriputta:
“Sāriputta, would a noble disciple who is sure and devoted to the Realized One have any doubt or uncertainty about the Realized One or his instructions?”
“Sir, a noble disciple who is sure and devoted to the Realized One would have no doubt or uncertainty about the Realized One or his instructions.
You can expect that a faithful noble disciple will live with energy roused up for giving up unskillful qualities and embracing skillful qualities. They’re strong, staunchly vigorous, not slacking off when it comes to developing skillful qualities.
For their energy is the faculty of energy.
You can expect that a faithful and energetic noble disciple will be mindful, with utmost mindfulness and alertness, able to remember and recall what was said and done long ago.
For their mindfulness is the faculty of mindfulness.
You can expect that a faithful, energetic, and mindful noble disciple will, relying on letting go, gain immersion, gain unification of mind.
For their samādhi is the faculty of immersion.
You can expect that a faithful, energetic, mindful noble disciple with their mind immersed in samādhi will understand this:
‘This transmigration has no known beginning.
No first point is found of sentient beings roaming and transmigrating, shrouded by ignorance and fettered by craving.
But when that dark mass of ignorance fades away and ceases with nothing left over, that state is peaceful and sublime.
That is, the stilling of all activities, the letting go of all attachments, the ending of craving, fading away, cessation, extinguishment.’
For their noble wisdom is the faculty of wisdom.
When a noble disciple has tried again and again, recollected again and again, entered immersion again and again, and understood with wisdom again and again, they will be confident of this:
‘I have previously heard of these things.
But now I have direct meditative experience of them, and see them with penetrating wisdom.’
For their faith is the faculty of faith.”
“Good, good, Sāriputta!
Sāriputta, a noble disciple who is sure and devoted to the Realized One would have no doubt or uncertainty about the Realized One or his instructions. …”
The Buddha then repeated Sāriputta’s answer word for word.
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở giữa dân chúng Anga, tại thị trấn của dân chúng Anga tên là Apāna.
Vi-n 2 Tại đấy, Thế Tôn bảo Tôn giả Sāriputta:
—Này Sāriputta, có vị Thánh đệ tử nào đi đến nhứt tâm và hoàn toàn tin tưởng ở Như Lai; vị ấy có thể có phân vân hay nghi ngờ đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như Lai?
Vi-n 3 —Vị Thánh đệ tử nào, bạch Thế Tôn, đi đến nhứt tâm và hoàn toàn tin tưởng ở Như Lai; vị ấy không có thể phân vân hay nghi ngờ đối với Như Lai, hay đối với lời giảng dạy của Như Lai. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin, được chờ đợi rằng: Vị ấy sẽ trú tinh cần, tinh tấn để đoạn tận các pháp bất thiện, để làm sanh khởi các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, tinh tấn, không có quăng bỏ gánh nặng đối với thiện pháp.
Vi-n 4 Sự tinh tấn của vị ấy, bạch Thế Tôn, là tấn căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin và tinh cần, tinh tấn, bạch Thế Tôn, được chờ đợi rằng: Vị ấy có niệm, thành tựu niệm tuệ tối thắng, ức niệm, tùy niệm những điều làm đã lâu, nói đã lâu ngày.
Vi-n 5 Sự niệm của vị ấy, bạch Thế Tôn, là niệm căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin, tinh cần, tinh tấn, với niệm được an trú, bạch Thế Tôn, được chờ đợi rằng: Sau khi từ bỏ pháp sở duyên, vị ấy sẽ được định, được nhứt tâm.
Vi-n 6 Ðịnh của vị ấy, bạch Thế Tôn, là định căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin, an trú chánh niệm, với tâm Thiền định, bạch Thế Tôn, được chờ đợi như sau: Vị ấy rõ biết rằng vô thỉ là luân hồi, khởi điểm đầu tiên không thể chỉ rõ. Chúng sanh bị vô minh che lấp, bị khát ái trói buộc, lưu chuyển luân hồi. Sự ly tham, đoạn diệt vô minh không có dư tàn, ổ nhóm u ám ấy, là tịch tịnh của vị này, là thù thắng của vị này, tức là sự tịnh chỉ tất cả hành, sự từ bỏ tất cả sanh y, sự đoạn tận tham ái, ly tham, đoạn diệt, Niết-bàn.
Vi-n 7 Trí tuệ của vị ấy, bạch Thế Tôn, là tuệ căn của vị ấy. Vị Thánh đệ tử có lòng tin ấy, tinh tấn, tinh cần như vậy; ức niệm, ức niệm như vậy; định tĩnh, định tĩnh như vậy; rõ biết, rõ biết như vậy; lòng thâm tín như sau sanh khởi: “Những pháp này mà trước kia ta từng được nghe, nay ta trú, tự thân chứng đạt những pháp ấy. Nay với trí tuệ, ta thể nhập chúng, ta thấy chúng rõ ràng”.
Vi-n 8 Lòng tin của vị ấy, bạch Thế Tôn, là tín căn của vị ấy.
Vi-n 9 —Lành thay, lành thay, này Sāriputta! Vị Thánh đệ tử nào, này Sāriputta, đi đến nhứt tâm và hoàn toàn tin tưởng ở Như Lai; vị ấy không có phân vân, không có nghi ngờ gì đối với Như Lai, hay đối với lời dạy của Như Lai. Vị Thánh đệ tử nào có lòng tin, này Sāriputta, được chờ đợi như sau: Vị ấy sẽ trú tinh cần, tinh tấn, để đoạn tận các pháp bất thiện, để làm sanh khởi các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì tinh tấn, không quăng bỏ gánh nặng đối với thiện pháp.
Vi-n 10-13. Sự tinh tấn của vị ấy, này Sāriputta, là tấn căn của vị ấy. Với vị Thánh đệ tử có lòng tin và tinh cần, tinh tấn, này Sāriputta … Vị Thánh đệ tử có lòng tin ấy, tinh cần, tinh tấn như vậy; rõ biết, rõ biết như vậy; lòng thâm tín như sau sanh khởi: “Những pháp này trước kia ta từng được nghe, nay ta trú, tự thân chứng đạt những pháp ấy. Nay với trí tuệ, ta thể nhập chúng, ta thấy chúng rõ ràng”.
Vi-n 14 Lòng tin của vị ấy, này Sāriputta, tức là tín căn của vị ấy.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā aṅgesu viharati āpaṇaṁ nāma aṅgānaṁ nigamo.
Tatra kho bhagavā āyasmantaṁ sāriputtaṁ āmantesi:
“yo so, sāriputta, ariyasāvako tathāgate ekantagato abhippasanno, na so tathāgate vā tathāgatasāsane vā kaṅkheyya vā vicikiccheyya vā”ti?
“Yo so, bhante, ariyasāvako tathāgate ekantagato abhippasanno, na so tathāgate vā tathāgatasāsane vā kaṅkheyya vā vicikiccheyya vā.
saddhassa hi, bhante, ariyasāvakassa etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ āraddhavīriyo viharissati—akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Yaṁ hissa, bhante, vīriyaṁ tadassa vīriyindriyaṁ.
Saddhassa hi, bhante, ariyasāvakassa āraddhavīriyassa etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ satimā bhavissati, paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā.
Yā hissa, bhante, sati tadassa satindriyaṁ.
Saddhassa hi, bhante, ariyasāvakassa āraddhavīriyassa upaṭṭhitassatino etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ vossaggārammaṇaṁ karitvā labhissati samādhiṁ, labhissati cittassa ekaggataṁ.
Yo hissa, bhante, samādhi tadassa samādhindriyaṁ.
Saddhassa hi, bhante, ariyasāvakassa āraddhavīriyassa upaṭṭhitassatino samāhitacittassa etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ evaṁ pajānissati—
anamataggo kho saṁsāro.
Pubbakoṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ.
Avijjāya tveva tamokāyassa asesavirāganirodho santametaṁ padaṁ paṇītametaṁ padaṁ, yadidaṁ—
sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ.
Yā hissa, bhante, paññā tadassa paññindriyaṁ.
Saddho so, bhante, ariyasāvako evaṁ padahitvā padahitvā evaṁ saritvā saritvā evaṁ samādahitvā samādahitvā evaṁ pajānitvā pajānitvā evaṁ abhisaddahati:
‘ime kho te dhammā ye me pubbe sutavā ahesuṁ.
Tenāhaṁ etarahi kāyena ca phusitvā viharāmi, paññāya ca ativijjha passāmī’ti.
Yā hissa, bhante, saddhā tadassa saddhindriyan”ti.
“Sādhu sādhu, sāriputta.
Yo so, sāriputta, ariyasāvako tathāgate ekantagato abhippasanno, na so tathāgate vā tathāgatasāsane vā kaṅkheyya vā vicikiccheyya vā.
Saddhassa hi, sāriputta, ariyasāvakassa etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ āraddhavīriyo viharissati—
akusalānaṁ dhammānaṁ pahānāya, kusalānaṁ dhammānaṁ upasampadāya, thāmavā daḷhaparakkamo anikkhittadhuro kusalesu dhammesu.
Yaṁ hissa, sāriputta, vīriyaṁ tadassa vīriyindriyaṁ.
Saddhassa hi, sāriputta, ariyasāvakassa āraddhavīriyassa etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ satimā bhavissati, paramena satinepakkena samannāgato, cirakatampi cirabhāsitampi saritā anussaritā.
Yā hissa, sāriputta, sati tadassa satindriyaṁ.
Saddhassa hi, sāriputta, ariyasāvakassa āraddhavīriyassa upaṭṭhitassatino etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ vossaggārammaṇaṁ karitvā labhissati samādhiṁ, labhissati cittassa ekaggataṁ.
Yo hissa, sāriputta, samādhi tadassa samādhindriyaṁ.
Saddhassa hi, sāriputta, ariyasāvakassa āraddhavīriyassa upaṭṭhitassatino samāhitacittassa etaṁ pāṭikaṅkhaṁ yaṁ evaṁ pajānissati—
anamataggo kho saṁsāro.
Pubbakoṭi na paññāyati avijjānīvaraṇānaṁ sattānaṁ taṇhāsaṁyojanānaṁ sandhāvataṁ saṁsarataṁ.
Avijjāya tveva tamokāyassa asesavirāganirodho santametaṁ padaṁ paṇītametaṁ padaṁ, yadidaṁ—
sabbasaṅkhārasamatho sabbūpadhipaṭinissaggo taṇhākkhayo virāgo nirodho nibbānaṁ.
Yā hissa, sāriputta, paññā tadassa paññindriyaṁ.
Saddho so, sāriputta, ariyasāvako evaṁ padahitvā padahitvā evaṁ saritvā saritvā evaṁ samādahitvā samādahitvā evaṁ pajānitvā pajānitvā evaṁ abhisaddahati:
‘ime kho te dhammā ye me pubbe sutavā ahesuṁ.
Tenāhaṁ etarahi kāyena ca phusitvā viharāmi, paññāya ca ativijjha passāmī’ti.
Yā hissa, sāriputta, saddhā tadassa saddhindriyan”ti.
Dasamaṁ.
Jarāvaggo pañcamo.
Tassuddānaṁ
Jarā uṇṇābho brāhmaṇo,
sāketo pubbakoṭṭhako;
Pubbārāme ca cattāri,
piṇḍolo āpaṇena cāti.