Vi-n 1-2~1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3~2 —Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 4-6. … thọ … tưởng … các hành là vô thường …
Vi-n 7~3 Này các Tỷ-kheo, thức là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 8~4 Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành.. đối với thức.
Vi-n 9~5 Do nhàm chán nên ly tham. Do ly tham, nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 10~6 Này các Tỷ-kheo, cho đến hữu tình cư (Sattavasa), cho đến tột đảnh của hữu (Bhavaggam), những bậc ấy là tối thượng, những bậc ấy là tối thắng ở trong đời, tức là các bậc A-la-hán.
Vi-n 11~7 Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~8 An lạc, bậc La-hán,
Họ không có khát ái,
Ngã mạn khéo chặt đứt;
Lưới si bị phá rách.
Vi-n 2~9 Họ đạt được bất động,
Tâm viễn ly ô trược,
Không nhiễm trước thế gian,
Bậc Phạm thiên vô lậu.
Vi-n 3~10 Họ biến tri năm uẩn.
Do hành bảy Chánh pháp.
Bậc Chân nhân tán thán,
Con đích tôn chư Phật.
Vi-n 4~11 Ðầy đủ bảy món báu,
Ba học đều thành tựu,
Bậc đại hùng du hành,
Ðoạn tận mọi sợ hãi.
Vi-n 5~12 Ðầy đủ mười uy lực,
Bậc Long tượng Thiền định.
Họ tối thắng ở đời,
Khát ái được đoạn tận.
Vi-n 6~13 Thành tựu vô học trí,
Thân này thân tối hậu,
Cứu cánh của Phạm hạnh,
Ðạt được không nhờ ai.
Vi-n 7~14 Ðối các tưởng, không động,
Giải thoát khỏi tái sanh,
Ðạt được điều phục địa,
Họ chiến thắng ở đời.
Vi-n 8~15 Thượng, hạ cùng tả, hữu.
Họ không có hỷ lạc,
Họ rống sư tử rống,
Phật vô thượng ở đời!
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ;
yaṁ dukkhaṁ tadanattā;
yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ;
yaṁ dukkhaṁ tadanattā;
yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi … saññāyapi … saṅkhāresupi … viññāṇasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Yāvatā, bhikkhave, sattāvāsā, yāvatā bhavaggaṁ, ete aggā, ete seṭṭhā lokasmiṁ yadidaṁ arahanto”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Sukhino vata arahanto,
taṇhā tesaṁ na vijjati;
Asmimāno samucchinno,
mohajālaṁ padālitaṁ.
Anejaṁ te anuppattā,
cittaṁ tesaṁ anāvilaṁ;
Loke anupalittā te,
brahmabhūtā anāsavā.
Pañcakkhandhe pariññāya,
satta saddhammagocarā;
Pasaṁsiyā sappurisā,
puttā buddhassa orasā.
Sattaratanasampannā,
Tīsu sikkhāsu sikkhitā;
Anuvicaranti mahāvīrā,
Pahīnabhayabheravā.
Dasahaṅgehi sampannā,
mahānāgā samāhitā;
Ete kho seṭṭhā lokasmiṁ,
taṇhā tesaṁ na vijjati.
Asekhañāṇamuppannaṁ,
antimoyaṁ samussayo;
Yo sāro brahmacariyassa,
tasmiṁ aparapaccayā.
Vidhāsu na vikampanti,
vippamuttā punabbhavā;
Dantabhūmimanuppattā,
te loke vijitāvino.
Uddhaṁ tiriyaṁ apācīnaṁ,
nandī tesaṁ na vijjati;
Nadanti te sīhanādaṁ,
buddhā loke anuttarā”ti.
Catutthaṁ.
SC 1At Savatthi. “Bhikkhus, form is impermanent. What is impermanent is suffering. What is suffering is nonself. What is nonself sn.iii.83 should be seen as it really is with correct wisdom thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’ “Feeling is impermanent…. Perception is impermanent…. Volitional formations are impermanent…. Consciousness is impermanent. What is impermanent is suffering. What is suffering is nonself. What is nonself should be seen as it really is with correct wisdom thus: ‘This is not mine, this I am not, this is not my self.’
SC 2“Seeing thus, bhikkhus, the instructed noble disciple experiences revulsion towards form, revulsion towards feeling, revulsion towards perception, revulsion towards volitional formations, revulsion towards consciousness. Experiencing revulsion, he becomes dispassionate. Through dispassion his mind is liberated. When it is liberated there comes the knowledge: ‘It’s liberated.’ He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’
SC 3“To whatever extent, bhikkhus, there are abodes of beings, even up to the pinnacle of existence, these are the foremost in the world, these are the best, that is, the arahants.”
SC 4This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this:
SC 5“Happy indeed are the arahants!
No craving can be found in them.
Cut off is the conceit ‘I am,’
Burst asunder is delusion’s net.
SC 6
Limpid are their minds;
They are unsullied in the world—
The holy ones, without taints.
SC 7“Having fully understood the five aggregates,
Ranging in the seven good qualities,
Those praiseworthy superior men
Are the Buddha’s bosom sons.
SC 8“Endowed with the seven gems,
Trained in the threefold training,
Those great heroes wander about
With fear and trembling abandoned.
SC 9“Endowed with the ten factors,
Those great nagas, concentrated,
Are the best beings in the world:
No craving can be found in them.
SC 10“The adepts’ knowledge has arisen in them:
‘This body is the last I bear.’
In regard to the core of the holy life
They no longer depend on others. sn.iii.84
SC 11
They are released from renewed existence.
Having reached the stage of the tamed,
They are the victors in the world.
SC 12“Above, across, and below,
Delight is no more found in them.
They boldly sound their lion’s roar:
‘The enlightened are supreme in the world.’”
Vi-n 1-2~1 Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3~2 —Này các Tỷ-kheo, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 4-6. … thọ … tưởng … các hành là vô thường …
Vi-n 7~3 Này các Tỷ-kheo, thức là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật thấy với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.
Vi-n 8~4 Này các Tỷ-kheo, do thấy vậy, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với sắc … đối với thọ … đối với tưởng … đối với các hành.. đối với thức.
Vi-n 9~5 Do nhàm chán nên ly tham. Do ly tham, nên được giải thoát. Trong sự giải thoát, trí khởi lên: “Ta đã được giải thoát”. Vị ấy biết rõ: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc gì nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 10~6 Này các Tỷ-kheo, cho đến hữu tình cư (Sattavasa), cho đến tột đảnh của hữu (Bhavaggam), những bậc ấy là tối thượng, những bậc ấy là tối thắng ở trong đời, tức là các bậc A-la-hán.
Vi-n 11~7 Thế Tôn thuyết như vậy. Bậc Thiện Thệ nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Vi-n 1~8 An lạc, bậc La-hán,
Họ không có khát ái,
Ngã mạn khéo chặt đứt;
Lưới si bị phá rách.
Vi-n 2~9 Họ đạt được bất động,
Tâm viễn ly ô trược,
Không nhiễm trước thế gian,
Bậc Phạm thiên vô lậu.
Vi-n 3~10 Họ biến tri năm uẩn.
Do hành bảy Chánh pháp.
Bậc Chân nhân tán thán,
Con đích tôn chư Phật.
Vi-n 4~11 Ðầy đủ bảy món báu,
Ba học đều thành tựu,
Bậc đại hùng du hành,
Ðoạn tận mọi sợ hãi.
Vi-n 5~12 Ðầy đủ mười uy lực,
Bậc Long tượng Thiền định.
Họ tối thắng ở đời,
Khát ái được đoạn tận.
Vi-n 6~13 Thành tựu vô học trí,
Thân này thân tối hậu,
Cứu cánh của Phạm hạnh,
Ðạt được không nhờ ai.
Vi-n 7~14 Ðối các tưởng, không động,
Giải thoát khỏi tái sanh,
Ðạt được điều phục địa,
Họ chiến thắng ở đời.
Vi-n 8~15 Thượng, hạ cùng tả, hữu.
Họ không có hỷ lạc,
Họ rống sư tử rống,
Phật vô thượng ở đời!
Sāvatthinidānaṁ.
“Rūpaṁ, bhikkhave, aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ;
yaṁ dukkhaṁ tadanattā;
yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Vedanā …
saññā …
saṅkhārā …
viññāṇaṁ aniccaṁ.
Yadaniccaṁ taṁ dukkhaṁ;
yaṁ dukkhaṁ tadanattā;
yadanattā taṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya daṭṭhabbaṁ.
Evaṁ passaṁ, bhikkhave, sutavā ariyasāvako rūpasmimpi nibbindati, vedanāyapi … saññāyapi … saṅkhāresupi … viññāṇasmimpi nibbindati.
Nibbindaṁ virajjati; virāgā vimuccati. Vimuttasmiṁ vimuttamiti ñāṇaṁ hoti.
‘Khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāti.
Yāvatā, bhikkhave, sattāvāsā, yāvatā bhavaggaṁ, ete aggā, ete seṭṭhā lokasmiṁ yadidaṁ arahanto”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Sukhino vata arahanto,
taṇhā tesaṁ na vijjati;
Asmimāno samucchinno,
mohajālaṁ padālitaṁ.
Anejaṁ te anuppattā,
cittaṁ tesaṁ anāvilaṁ;
Loke anupalittā te,
brahmabhūtā anāsavā.
Pañcakkhandhe pariññāya,
satta saddhammagocarā;
Pasaṁsiyā sappurisā,
puttā buddhassa orasā.
Sattaratanasampannā,
Tīsu sikkhāsu sikkhitā;
Anuvicaranti mahāvīrā,
Pahīnabhayabheravā.
Dasahaṅgehi sampannā,
mahānāgā samāhitā;
Ete kho seṭṭhā lokasmiṁ,
taṇhā tesaṁ na vijjati.
Asekhañāṇamuppannaṁ,
antimoyaṁ samussayo;
Yo sāro brahmacariyassa,
tasmiṁ aparapaccayā.
Vidhāsu na vikampanti,
vippamuttā punabbhavā;
Dantabhūmimanuppattā,
te loke vijitāvino.
Uddhaṁ tiriyaṁ apācīnaṁ,
nandī tesaṁ na vijjati;
Nadanti te sīhanādaṁ,
buddhā loke anuttarā”ti.
Catutthaṁ.