Vi-n 1-2.…
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, tại núi chúa Tuyết sơn có khoảnh đất gồ ghề, không thăng bằng, chỗ ấy không có các loài vượn, loài người qua lại.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, tại núi chúa Tuyết sơn có những khoảng đất ghồ ghề, không bằng phẳng, chỗ ấy chỉ có loài vượn qua lại, không có loài người.
Vi-n 5 Tại núi chúa Tuyết sơn, có những khoảnh đất bằng phẳng, khả ái. Tại chỗ ấy có các loài vượn và loài người qua lại. Tại đấy, này các Tỷ-kheo, những người thợ săn đặt các bẫy nhựa (lepam) trên những con đường có vượn qua lại để bắt các con vượn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, những con vượn nào tánh không ngu si, không tham ăn, thấy bẫy nhựa ấy liền tránh xa. Còn con vượn nào ngu si, tham ăn, thấy bẫy nhựa ấy, thò tay nắm lấy và bị dính vào đấy. “Ta sẽ gỡ bàn tay ra”, nó thò bàn tay thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. “Ta sẽ gỡ hai tay ra”, nó giơ chân nắm lấy và bị dính ở đấy. “Ta sẽ gỡ hai bàn tay và bàn chân ra”, nó giơ bàn chân thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. “Ta sẽ gỡ cả hai tay và hai chân”, nó dùng miệng ngậm lấy và bị mắc dính ở đấy.
Vi-n 6 Như vậy, này các Tỷ-kheo, con vượn bị bắt năm chỗ, liền rên la nằm xuống, rơi vào bất hạnh, rơi vào khổ não, bị người thợ săn muốn làm gì thì làm. Này các Tỷ-kheo, người thợ săn đâm chết nó, nướng nó trên đống than củi, và ra đi, theo sở thích của mình.
Vi-n 7 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, là người đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác, Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.
Vi-n 8 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không phải chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác? Tức là năm dục công đức. Thế nào là năm?
Vi-n 9 Các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn … Các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây không phải là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, là chỗ cảnh giới của người khác.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, hãy đi đến chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của mình, đến chỗ cảnh giới của cha mẹ mình, Ác ma không nắm được cơ hội, Ác ma không nắm được đối tượng.
Vi-n 11 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành xứ của Tỷ-kheo, là cảnh giới của cha mẹ mình? Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
Vi-n 12 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời…; trú, quán thọ trên các cảm thọ…; trú, quán tâm trên tâm…; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình.
“Atthi, bhikkhave, himavato pabbatarājassa duggā visamā desā, yattha neva makkaṭānaṁ cārī na manussānaṁ.
Atthi, bhikkhave, himavato pabbatarājassa duggā visamā desā, yattha makkaṭānañhi kho cārī, na manussānaṁ.
Atthi, bhikkhave, himavato pabbatarājassa samā bhūmibhāgā ramaṇīyā, yattha makkaṭānañceva cārī manussānañca.
Tatra, bhikkhave, luddā makkaṭavīthīsu lepaṁ oḍḍenti makkaṭānaṁ bādhanāya.
Tatra, bhikkhave, ye te makkaṭā abālajātikā alolajātikā, te taṁ lepaṁ disvā ārakā parivajjanti.
Yo pana so hoti makkaṭo bālajātiko lolajātiko, so taṁ lepaṁ upasaṅkamitvā hatthena gaṇhāti.
So tattha bajjhati.
‘Hatthaṁ mocessāmī’ti dutiyena hatthena gaṇhāti.
So tattha bajjhati.
‘Ubho hatthe mocessāmī’ti pādena gaṇhāti.
So tattha bajjhati.
‘Ubho hatthe mocessāmi pādañcā’ti dutiyena pādena gaṇhāti.
So tattha bajjhati.
‘Ubho hatthe mocessāmi pāde cā’ti tuṇḍena gaṇhāti.
So tattha bajjhati.
Evañhi so, bhikkhave, makkaṭo pañcoḍḍito thunaṁ seti anayaṁ āpanno byasanaṁ āpanno yathākāmakaraṇīyo luddassa.
Tamenaṁ, bhikkhave, luddo vijjhitvā tasmiṁyeva kaṭṭhakataṅgāre avassajjetvā yena kāmaṁ pakkamati.
Evaṁ so taṁ, bhikkhave, hoti yo agocare carati paravisaye.
Tasmātiha, bhikkhave, mā agocare carittha paravisaye.
Agocare, bhikkhave, carataṁ paravisaye lacchati māro otāraṁ, lacchati māro ārammaṇaṁ.
Ko ca, bhikkhave, bhikkhuno agocaro paravisayo?
Yadidaṁ—
pañca kāmaguṇā.
Katame pañca?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā,
sotaviññeyyā saddā …pe…
ghānaviññeyyā gandhā …pe…
jivhāviññeyyā rasā …pe…
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Ayaṁ, bhikkhave, bhikkhuno agocaro paravisayo.
Gocare, bhikkhave, caratha sake pettike visaye.
Gocare, bhikkhave, carataṁ sake pettike visaye na lacchati māro otāraṁ, na lacchati māro ārammaṇaṁ.
Ko ca, bhikkhave, bhikkhuno gocaro sako pettiko visayo?
Yadidaṁ—
cattāro satipaṭṭhānā.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ;
vedanāsu …pe…
citte …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, bhikkhuno gocaro sako pettiko visayo”ti.
Sattamaṁ.
SC 1“Bhikkhus, in the Himalayas, the king of mountains, there are rugged and uneven zones where neither monkeys nor human beings can go; there are rugged and uneven zones where monkeys can go but not human beings; there are even and delightful regions where both monkeys and human beings can go. There, along the monkey trails, hunters set out traps of pitch for catching monkeys.
SC 2“Those monkeys who are not foolish and frivolous, when they see the pitch, avoid it from afar. But a monkey who is foolish and frivolous approaches the pitch and seizes it with his hand; he gets caught there. Thinking, ‘I will free my hand,’ he seizes it with his other hand; he gets caught there. Thinking, ‘I will free both hands,’ he seizes it with his foot; he gets caught there. Thinking, ‘I will free both hands and my foot,’ he seizes it with his other foot; he gets caught there.’ Thinking, ‘I will free both hands and feet,’ he applies his muzzle to it; he gets caught there.
SC 3“Thus, bhikkhus, that monkey, trapped at five points, lies there screeching. He has met with calamity and disaster and the hunter can do with him as he wishes. sn.v.149 The hunter spears him, fastens him to that same block of wood, and goes off where he wants. So it is, bhikkhus, when one strays outside one’s own resort into the domain of others.
SC 4“Therefore, bhikkhus, do not stray outside your own resort into the domain of others. Mara will gain access to those who stray outside their own resort into the domain of others; Mara will get a hold on them.
SC 5“And what is not a bhikkhu’s own resort but the domain of others? It is the five cords of sensual pleasure…. as above … This is what is not a bhikkhu’s own resort but the domain of others.
SC 6“Move in your own resort, bhikkhus, in your own ancestral domain. Mara will not gain access to those who move in their own resort, in their own ancestral domain; Mara will not get a hold on them.
SC 7“And what is a bhikkhu’s resort, his own ancestral domain? It is the four establishments of mindfulness. What four? Here, bhikkhus, a bhikkhu dwells contemplating the body in the body, ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world. He dwells contemplating feelings in feelings … mind in mind … phenomena in phenomena, ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world. This is a bhikkhu’s resort, his own ancestral domain.”
Vi-n 1-2.…
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, tại núi chúa Tuyết sơn có khoảnh đất gồ ghề, không thăng bằng, chỗ ấy không có các loài vượn, loài người qua lại.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, tại núi chúa Tuyết sơn có những khoảng đất ghồ ghề, không bằng phẳng, chỗ ấy chỉ có loài vượn qua lại, không có loài người.
Vi-n 5 Tại núi chúa Tuyết sơn, có những khoảnh đất bằng phẳng, khả ái. Tại chỗ ấy có các loài vượn và loài người qua lại. Tại đấy, này các Tỷ-kheo, những người thợ săn đặt các bẫy nhựa (lepam) trên những con đường có vượn qua lại để bắt các con vượn. Ở đây, này các Tỷ-kheo, những con vượn nào tánh không ngu si, không tham ăn, thấy bẫy nhựa ấy liền tránh xa. Còn con vượn nào ngu si, tham ăn, thấy bẫy nhựa ấy, thò tay nắm lấy và bị dính vào đấy. “Ta sẽ gỡ bàn tay ra”, nó thò bàn tay thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. “Ta sẽ gỡ hai tay ra”, nó giơ chân nắm lấy và bị dính ở đấy. “Ta sẽ gỡ hai bàn tay và bàn chân ra”, nó giơ bàn chân thứ hai nắm lấy và bị dính ở đấy. “Ta sẽ gỡ cả hai tay và hai chân”, nó dùng miệng ngậm lấy và bị mắc dính ở đấy.
Vi-n 6 Như vậy, này các Tỷ-kheo, con vượn bị bắt năm chỗ, liền rên la nằm xuống, rơi vào bất hạnh, rơi vào khổ não, bị người thợ săn muốn làm gì thì làm. Này các Tỷ-kheo, người thợ săn đâm chết nó, nướng nó trên đống than củi, và ra đi, theo sở thích của mình.
Vi-n 7 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, là người đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ không phải hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của người khác, Ác ma nắm được cơ hội, Ác ma nắm được đối tượng.
Vi-n 8 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là không phải chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của người khác? Tức là năm dục công đức. Thế nào là năm?
Vi-n 9 Các sắc do mắt nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn … Các xúc do thân nhận thức khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, đây không phải là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, là chỗ cảnh giới của người khác.
Vi-n 10 Này các Tỷ-kheo, hãy đi đến chỗ hành xứ của mình, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình. Này các Tỷ-kheo, đi đến chỗ hành xứ của mình, đến chỗ cảnh giới của cha mẹ mình, Ác ma không nắm được cơ hội, Ác ma không nắm được đối tượng.
Vi-n 11 Và này các Tỷ-kheo, thế nào là hành xứ của Tỷ-kheo, là cảnh giới của cha mẹ mình? Tức là bốn niệm xứ. Thế nào là bốn?
Vi-n 12 Ở đây, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời…; trú, quán thọ trên các cảm thọ…; trú, quán tâm trên tâm…; trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Này các Tỷ-kheo, đây là chỗ hành xứ của Tỷ-kheo, chỗ cảnh giới của cha mẹ mình.
“Atthi, bhikkhave, himavato pabbatarājassa duggā visamā desā, yattha neva makkaṭānaṁ cārī na manussānaṁ.
Atthi, bhikkhave, himavato pabbatarājassa duggā visamā desā, yattha makkaṭānañhi kho cārī, na manussānaṁ.
Atthi, bhikkhave, himavato pabbatarājassa samā bhūmibhāgā ramaṇīyā, yattha makkaṭānañceva cārī manussānañca.
Tatra, bhikkhave, luddā makkaṭavīthīsu lepaṁ oḍḍenti makkaṭānaṁ bādhanāya.
Tatra, bhikkhave, ye te makkaṭā abālajātikā alolajātikā, te taṁ lepaṁ disvā ārakā parivajjanti.
Yo pana so hoti makkaṭo bālajātiko lolajātiko, so taṁ lepaṁ upasaṅkamitvā hatthena gaṇhāti.
So tattha bajjhati.
‘Hatthaṁ mocessāmī’ti dutiyena hatthena gaṇhāti.
So tattha bajjhati.
‘Ubho hatthe mocessāmī’ti pādena gaṇhāti.
So tattha bajjhati.
‘Ubho hatthe mocessāmi pādañcā’ti dutiyena pādena gaṇhāti.
So tattha bajjhati.
‘Ubho hatthe mocessāmi pāde cā’ti tuṇḍena gaṇhāti.
So tattha bajjhati.
Evañhi so, bhikkhave, makkaṭo pañcoḍḍito thunaṁ seti anayaṁ āpanno byasanaṁ āpanno yathākāmakaraṇīyo luddassa.
Tamenaṁ, bhikkhave, luddo vijjhitvā tasmiṁyeva kaṭṭhakataṅgāre avassajjetvā yena kāmaṁ pakkamati.
Evaṁ so taṁ, bhikkhave, hoti yo agocare carati paravisaye.
Tasmātiha, bhikkhave, mā agocare carittha paravisaye.
Agocare, bhikkhave, carataṁ paravisaye lacchati māro otāraṁ, lacchati māro ārammaṇaṁ.
Ko ca, bhikkhave, bhikkhuno agocaro paravisayo?
Yadidaṁ—
pañca kāmaguṇā.
Katame pañca?
Cakkhuviññeyyā rūpā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā,
sotaviññeyyā saddā …pe…
ghānaviññeyyā gandhā …pe…
jivhāviññeyyā rasā …pe…
kāyaviññeyyā phoṭṭhabbā iṭṭhā kantā manāpā piyarūpā kāmūpasaṁhitā rajanīyā.
Ayaṁ, bhikkhave, bhikkhuno agocaro paravisayo.
Gocare, bhikkhave, caratha sake pettike visaye.
Gocare, bhikkhave, carataṁ sake pettike visaye na lacchati māro otāraṁ, na lacchati māro ārammaṇaṁ.
Ko ca, bhikkhave, bhikkhuno gocaro sako pettiko visayo?
Yadidaṁ—
cattāro satipaṭṭhānā.
Katame cattāro?
Idha, bhikkhave, bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ;
vedanāsu …pe…
citte …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Ayaṁ, bhikkhave, bhikkhuno gocaro sako pettiko visayo”ti.
Sattamaṁ.