Vi-n 1 …
Vi-n 2-3. —Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo, được giao lo liệu các thứ xúp sai khác cho vua hay cho các đại thần của vua, như xúp chua, đắng, cay, ngọt, chất kiềm, không phải chất kiềm (khàrikehi pi akhàrikehi pi), chất mặn, không phải chất mặn.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy không nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình (bhattasa hay bhattuno?): “Hôm nay, chủ ta thích món xúp này”, hay: “Món xúp này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Chủ ta tán thán món xúp này”. “Hôm nay, chủ ta thích món xúp chua này”, hay: “Món xúp chua này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp chua này, chủ ta dùng nhiều”, hay: “Chủ ta tán thán xúp chua này”. “Hôm nay, chủ ta thích món xúp đắng này” … hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp cay này” … hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp ngọt này” … hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp chất kiềm này” … hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp không phải chất kiềm này” … hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp không phải chất mặn này”, hay: “Món xúp không phải mặn này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp không phải mặn này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Chủ ta tán thán món xúp không phải mặn này”.
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, người đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy không nhận được đồ mặc, không nhận được lương bổng, không nhận được tiền thưởng. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, kẻ đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy không nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình.
Vi-n 6 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo, trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Dầu vị ấy trú, quán thân trên thân, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận; vị ấy không học được tướng ấy. Dầu vị ấy trú, quán thọ trên các thọ. Quán tâm trên tâm … Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Dầu vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận; vị ấy không học được tướng ấy.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy, không được lạc trú ngay trong hiện tại, không được tỉnh giác. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy, không học được tướng tâm của mình.
Vi-n 8 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo, được giao lo liệu các thứ xúp sai khác cho các vua hay cho các đại thần của vua, như xúp chua, đắng, cay, ngọt, chất kiềm, không phải chất kiềm, chất mặn hay không phải chất mặn. Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nắm đươĩc sở thích về việc ăn uống của người chủ mình: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp này”, hay: “Món xúp này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Món xúp này chủ ta tán thán”, hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp chua này”, hay: “Món xúp chua này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp chua này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Món xúp chua này chủ ta tán thán”. “Hôm nay, chủ ta thích món xúp đắng này” … “Hôm nay, chủ ta thích món xúp cay này” … “Hôm nay, chủ ta thích món xúp ngọt này” … “Hôm nay, chủ ta thích món xúp vị kiềm này” … “Hôm nay, chủ ta thích món xúp không vị kiềm này” …: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp vị mặn này” … “Hôm nay, chủ ta thích món xúp không mặn này”, hay: “Món xúp không mặn này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp không mặn này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Món xúp không mặn này chủ ta tán thán”.
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nhận được đồ mặc, nhận được lương bổng, nhận được tiền thưởng. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình.
Vi-n 10 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo, trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán thân trên thân, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận; vị ấy học được tướng ấy. Vị ấy trú, quán thọ trên các thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận; vị ấy học được tướng ấy.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo ấy, ngay trong hiện tại, chứng được lạc trú, chứng được chánh niệm tỉnh giác. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo ấy, học được tướng tâm của mình.
“Seyyathāpi, bhikkhave, bālo abyatto akusalo sūdo rājānaṁ vā rājamahāmattaṁ vā nānaccayehi sūpehi paccupaṭṭhito assa—
ambilaggehipi, tittakaggehipi, kaṭukaggehipi, madhuraggehipi, khārikehipi, akhārikehipi, loṇikehipi, aloṇikehipi.
Sa kho so, bhikkhave, bālo abyatto akusalo sūdo sakassa bhattu nimittaṁ na uggaṇhāti:
‘idaṁ vā me ajja bhattu sūpeyyaṁ ruccati, imassa vā abhiharati, imassa vā bahuṁ gaṇhāti, imassa vā vaṇṇaṁ bhāsati.
Ambilaggaṁ vā me ajja bhattu sūpeyyaṁ ruccati, ambilaggassa vā abhiharati, ambilaggassa vā bahuṁ gaṇhāti, ambilaggassa vā vaṇṇaṁ bhāsati. Tittakaggaṁ vā me ajja … kaṭukaggaṁ vā me ajja … madhuraggaṁ vā me ajja … khārikaṁ vā me ajja … akhārikaṁ vā me ajja … loṇikaṁ vā me ajja … aloṇikaṁ vā me ajja bhattu sūpeyyaṁ ruccati, aloṇikassa vā abhiharati, aloṇikassa vā bahuṁ gaṇhāti, aloṇikassa vā vaṇṇaṁ bhāsatī’ti.
Sa kho so, bhikkhave, bālo abyatto akusalo sūdo na ceva lābhī hoti acchādanassa, na lābhī vetanassa, na lābhī abhihārānaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi so, bhikkhave, bālo abyatto akusalo sūdo sakassa bhattu nimittaṁ na uggaṇhāti.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacco bālo abyatto akusalo bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Tassa kāye kāyānupassino viharato cittaṁ na samādhiyati, upakkilesā na pahīyanti.
So taṁ nimittaṁ na uggaṇhāti.
Vedanāsu vedanānupassī viharati …pe…
citte cittānupassī viharati …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Tassa dhammesu dhammānupassino viharato cittaṁ na samādhiyati, upakkilesā na pahīyanti.
So taṁ nimittaṁ na uggaṇhāti.
Sa kho so, bhikkhave, bālo abyatto akusalo bhikkhu na ceva lābhī hoti diṭṭheva dhamme sukhavihārānaṁ, na lābhī satisampajaññassa.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi so, bhikkhave, bālo abyatto akusalo bhikkhu sakassa cittassa nimittaṁ na uggaṇhāti.
Seyyathāpi, bhikkhave, paṇḍito byatto kusalo sūdo rājānaṁ vā rājamahāmattaṁ vā nānaccayehi sūpehi paccupaṭṭhito assa—
ambilaggehipi, tittakaggehipi, kaṭukaggehipi, madhuraggehipi, khārikehipi, akhārikehipi, loṇikehipi, aloṇikehipi.
Sa kho so, bhikkhave, paṇḍito byatto kusalo sūdo sakassa bhattu nimittaṁ uggaṇhāti:
‘idaṁ vā me ajja bhattu sūpeyyaṁ ruccati, imassa vā abhiharati, imassa vā bahuṁ gaṇhāti, imassa vā vaṇṇaṁ bhāsati.
Ambilaggaṁ vā me ajja bhattu sūpeyyaṁ ruccati, ambilaggassa vā abhiharati, ambilaggassa vā bahuṁ gaṇhāti, ambilaggassa vā vaṇṇaṁ bhāsati. Tittakaggaṁ vā me ajja … kaṭukaggaṁ vā me ajja … madhuraggaṁ vā me ajja … khārikaṁ vā me ajja … akhārikaṁ vā me ajja … loṇikaṁ vā me ajja … aloṇikaṁ vā me ajja bhattu sūpeyyaṁ ruccati, aloṇikassa vā abhiharati, aloṇikassa vā bahuṁ gaṇhāti, aloṇikassa vā vaṇṇaṁ bhāsatī’ti.
Sa kho so, bhikkhave, paṇḍito byatto kusalo sūdo lābhī ceva hoti acchādanassa, lābhī vetanassa, lābhī abhihārānaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi so, bhikkhave, paṇḍito byatto kusalo sūdo sakassa bhattu nimittaṁ uggaṇhāti.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacco paṇḍito byatto kusalo bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Tassa kāye kāyānupassino viharato cittaṁ samādhiyati, upakkilesā pahīyanti.
So taṁ nimittaṁ uggaṇhāti.
Vedanāsu vedanānupassī viharati …pe…
citte cittānupassī viharati …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Tassa dhammesu dhammānupassino viharato cittaṁ samādhiyati, upakkilesā pahīyanti.
So taṁ nimittaṁ uggaṇhāti.
Sa kho so, bhikkhave, paṇḍito byatto kusalo bhikkhu lābhī ceva hoti diṭṭheva dhamme sukhavihārānaṁ, lābhī hoti satisampajaññassa.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi so, bhikkhave, paṇḍito byatto kusalo bhikkhu sakassa cittassa nimittaṁ uggaṇhātī”ti.
Aṭṭhamaṁ.
i. The incompetent cook
SC 1“Bhikkhus, suppose a foolish, incompetent, unskilful cook were to present a king or a royal minister with various kinds of curries: sour, bitter, pungent, sweet, sharp, mild, salty, bland. sn.v.150
SC 2“That foolish, incompetent, unskilful cook does not pick up the sign of his own master’s preference: ‘Today this curry pleased my master, or he reached for this one, or he took a lot of this one, or he spoke in praise of this one; or the sour curry pleased my master today, or he reached for the sour one, or he took a lot of the sour one, or he spoke in praise of the sour one; or the bitter curry … or the pungent curry … or the sweet curry … or the sharp curry … or the mild curry … or the salty curry … or the bland curry pleased my master … or he spoke in praise of the bland one.’
SC 3“That foolish, incompetent, unskilful cook does not gain gifts of clothing, wages, and bonuses. For what reason? Because that foolish, incompetent, unskilful cook does not pick up the sign of his own master’s preference.
SC 4“So too, bhikkhus, here some foolish, incompetent, unskilful bhikkhu dwells contemplating the body in the body, ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world. While he dwells contemplating the body in the body, his mind does not become concentrated, his corruptions are not abandoned, he does not pick up that sign. He dwells contemplating feelings in feelings … mind in mind … phenomena in phenomena, ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world. While he dwells contemplating phenomena in phenomena, his mind does not become concentrated, his corruptions are not abandoned, he does not pick up that sign.
SC 5“That foolish, incompetent, unskilful bhikkhu does not gain pleasant dwellings in this very life, nor does he gain sn.v.151 mindfulness and clear comprehension. For what reason? Because, bhikkhus, that foolish, incompetent, unskilful bhikkhu does not pick up the sign of his own mind.
ii. The competent cook
SC 6“Suppose, bhikkhus, a wise, competent, skilful cook were to present a king or a royal minister with various kinds of curries: sour, bitter, pungent, sweet, sharp, mild, salty, bland.
SC 7“That wise, competent, skilful cook picks up the sign of his own master’s preference: ‘Today this curry pleased my master … or he spoke in praise of the bland one.’
SC 8“That wise, competent, skilful cook gains gifts of clothing, wages, and bonuses. For what reason? Because that wise, competent, skilful cook picks up the sign of his own master’s preference.
SC 9“So too, bhikkhus, here some wise, competent, skilful bhikkhu dwells contemplating the body in the body, ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world. While he dwells contemplating the body in the body, his mind becomes concentrated, his corruptions sn.v.152 are abandoned, he picks up that sign. He dwells contemplating feelings in feelings … mind in mind … phenomena in phenomena, ardent, clearly comprehending, mindful, having removed covetousness and displeasure in regard to the world. While he dwells contemplating phenomena in phenomena, his mind becomes concentrated, his corruptions are abandoned, he picks up that sign.
SC 10“That wise, competent, skilful bhikkhu gains pleasant dwellings in this very life, and he gains mindfulness and clear comprehension. For what reason? Because, bhikkhus, that wise, competent, skilful bhikkhu picks up the sign of his own mind.”
Vi-n 1 …
Vi-n 2-3. —Ví như, này các Tỷ-kheo, một người đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo, được giao lo liệu các thứ xúp sai khác cho vua hay cho các đại thần của vua, như xúp chua, đắng, cay, ngọt, chất kiềm, không phải chất kiềm (khàrikehi pi akhàrikehi pi), chất mặn, không phải chất mặn.
Vi-n 4 Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy không nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình (bhattasa hay bhattuno?): “Hôm nay, chủ ta thích món xúp này”, hay: “Món xúp này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Chủ ta tán thán món xúp này”. “Hôm nay, chủ ta thích món xúp chua này”, hay: “Món xúp chua này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp chua này, chủ ta dùng nhiều”, hay: “Chủ ta tán thán xúp chua này”. “Hôm nay, chủ ta thích món xúp đắng này” … hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp cay này” … hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp ngọt này” … hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp chất kiềm này” … hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp không phải chất kiềm này” … hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp không phải chất mặn này”, hay: “Món xúp không phải mặn này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp không phải mặn này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Chủ ta tán thán món xúp không phải mặn này”.
Vi-n 5 Và này các Tỷ-kheo, người đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy không nhận được đồ mặc, không nhận được lương bổng, không nhận được tiền thưởng. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, kẻ đầu bếp ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy không nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình.
Vi-n 6 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo, trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Dầu vị ấy trú, quán thân trên thân, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận; vị ấy không học được tướng ấy. Dầu vị ấy trú, quán thọ trên các thọ. Quán tâm trên tâm … Vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Dầu vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, nhưng tâm không định tĩnh, các phiền não không được đoạn tận; vị ấy không học được tướng ấy.
Vi-n 7 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy, không được lạc trú ngay trong hiện tại, không được tỉnh giác. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo ngu si, không thông minh, không khéo léo ấy, không học được tướng tâm của mình.
Vi-n 8 Ví như, này các Tỷ-kheo, có người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo, được giao lo liệu các thứ xúp sai khác cho các vua hay cho các đại thần của vua, như xúp chua, đắng, cay, ngọt, chất kiềm, không phải chất kiềm, chất mặn hay không phải chất mặn. Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nắm đươĩc sở thích về việc ăn uống của người chủ mình: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp này”, hay: “Món xúp này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Món xúp này chủ ta tán thán”, hay: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp chua này”, hay: “Món xúp chua này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp chua này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Món xúp chua này chủ ta tán thán”. “Hôm nay, chủ ta thích món xúp đắng này” … “Hôm nay, chủ ta thích món xúp cay này” … “Hôm nay, chủ ta thích món xúp ngọt này” … “Hôm nay, chủ ta thích món xúp vị kiềm này” … “Hôm nay, chủ ta thích món xúp không vị kiềm này” …: “Hôm nay, chủ ta thích món xúp vị mặn này” … “Hôm nay, chủ ta thích món xúp không mặn này”, hay: “Món xúp không mặn này chủ ta lấy ăn”, hay: “Món xúp không mặn này chủ ta dùng nhiều”, hay: “Món xúp không mặn này chủ ta tán thán”.
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nhận được đồ mặc, nhận được lương bổng, nhận được tiền thưởng. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, người đầu bếp có trí, thông minh, khéo léo ấy nắm được sở thích về việc ăn uống của người chủ của mình.
Vi-n 10 Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, ở đây, có Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo, trú, quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán thân trên thân, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận; vị ấy học được tướng ấy. Vị ấy trú, quán thọ trên các thọ … quán tâm trên tâm … quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Do vị ấy trú, quán pháp trên các pháp, tâm được định tĩnh, các phiền não được đoạn tận; vị ấy học được tướng ấy.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo ấy, ngay trong hiện tại, chứng được lạc trú, chứng được chánh niệm tỉnh giác. Vì sao? Vì rằng, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo có trí, thông minh, khéo léo ấy, học được tướng tâm của mình.
“Seyyathāpi, bhikkhave, bālo abyatto akusalo sūdo rājānaṁ vā rājamahāmattaṁ vā nānaccayehi sūpehi paccupaṭṭhito assa—
ambilaggehipi, tittakaggehipi, kaṭukaggehipi, madhuraggehipi, khārikehipi, akhārikehipi, loṇikehipi, aloṇikehipi.
Sa kho so, bhikkhave, bālo abyatto akusalo sūdo sakassa bhattu nimittaṁ na uggaṇhāti:
‘idaṁ vā me ajja bhattu sūpeyyaṁ ruccati, imassa vā abhiharati, imassa vā bahuṁ gaṇhāti, imassa vā vaṇṇaṁ bhāsati.
Ambilaggaṁ vā me ajja bhattu sūpeyyaṁ ruccati, ambilaggassa vā abhiharati, ambilaggassa vā bahuṁ gaṇhāti, ambilaggassa vā vaṇṇaṁ bhāsati. Tittakaggaṁ vā me ajja … kaṭukaggaṁ vā me ajja … madhuraggaṁ vā me ajja … khārikaṁ vā me ajja … akhārikaṁ vā me ajja … loṇikaṁ vā me ajja … aloṇikaṁ vā me ajja bhattu sūpeyyaṁ ruccati, aloṇikassa vā abhiharati, aloṇikassa vā bahuṁ gaṇhāti, aloṇikassa vā vaṇṇaṁ bhāsatī’ti.
Sa kho so, bhikkhave, bālo abyatto akusalo sūdo na ceva lābhī hoti acchādanassa, na lābhī vetanassa, na lābhī abhihārānaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi so, bhikkhave, bālo abyatto akusalo sūdo sakassa bhattu nimittaṁ na uggaṇhāti.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacco bālo abyatto akusalo bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Tassa kāye kāyānupassino viharato cittaṁ na samādhiyati, upakkilesā na pahīyanti.
So taṁ nimittaṁ na uggaṇhāti.
Vedanāsu vedanānupassī viharati …pe…
citte cittānupassī viharati …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Tassa dhammesu dhammānupassino viharato cittaṁ na samādhiyati, upakkilesā na pahīyanti.
So taṁ nimittaṁ na uggaṇhāti.
Sa kho so, bhikkhave, bālo abyatto akusalo bhikkhu na ceva lābhī hoti diṭṭheva dhamme sukhavihārānaṁ, na lābhī satisampajaññassa.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi so, bhikkhave, bālo abyatto akusalo bhikkhu sakassa cittassa nimittaṁ na uggaṇhāti.
Seyyathāpi, bhikkhave, paṇḍito byatto kusalo sūdo rājānaṁ vā rājamahāmattaṁ vā nānaccayehi sūpehi paccupaṭṭhito assa—
ambilaggehipi, tittakaggehipi, kaṭukaggehipi, madhuraggehipi, khārikehipi, akhārikehipi, loṇikehipi, aloṇikehipi.
Sa kho so, bhikkhave, paṇḍito byatto kusalo sūdo sakassa bhattu nimittaṁ uggaṇhāti:
‘idaṁ vā me ajja bhattu sūpeyyaṁ ruccati, imassa vā abhiharati, imassa vā bahuṁ gaṇhāti, imassa vā vaṇṇaṁ bhāsati.
Ambilaggaṁ vā me ajja bhattu sūpeyyaṁ ruccati, ambilaggassa vā abhiharati, ambilaggassa vā bahuṁ gaṇhāti, ambilaggassa vā vaṇṇaṁ bhāsati. Tittakaggaṁ vā me ajja … kaṭukaggaṁ vā me ajja … madhuraggaṁ vā me ajja … khārikaṁ vā me ajja … akhārikaṁ vā me ajja … loṇikaṁ vā me ajja … aloṇikaṁ vā me ajja bhattu sūpeyyaṁ ruccati, aloṇikassa vā abhiharati, aloṇikassa vā bahuṁ gaṇhāti, aloṇikassa vā vaṇṇaṁ bhāsatī’ti.
Sa kho so, bhikkhave, paṇḍito byatto kusalo sūdo lābhī ceva hoti acchādanassa, lābhī vetanassa, lābhī abhihārānaṁ.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi so, bhikkhave, paṇḍito byatto kusalo sūdo sakassa bhattu nimittaṁ uggaṇhāti.
Evameva kho, bhikkhave, idhekacco paṇḍito byatto kusalo bhikkhu kāye kāyānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Tassa kāye kāyānupassino viharato cittaṁ samādhiyati, upakkilesā pahīyanti.
So taṁ nimittaṁ uggaṇhāti.
Vedanāsu vedanānupassī viharati …pe…
citte cittānupassī viharati …pe…
dhammesu dhammānupassī viharati ātāpī sampajāno satimā, vineyya loke abhijjhādomanassaṁ.
Tassa dhammesu dhammānupassino viharato cittaṁ samādhiyati, upakkilesā pahīyanti.
So taṁ nimittaṁ uggaṇhāti.
Sa kho so, bhikkhave, paṇḍito byatto kusalo bhikkhu lābhī ceva hoti diṭṭheva dhamme sukhavihārānaṁ, lābhī hoti satisampajaññassa.
Taṁ kissa hetu?
Tathā hi so, bhikkhave, paṇḍito byatto kusalo bhikkhu sakassa cittassa nimittaṁ uggaṇhātī”ti.
Aṭṭhamaṁ.