Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Mahà Kappina đi đến Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn thấy Tôn giả Mahà Kappina từ đường xa đi đến.
Vi-n 4 Sau khi thấy, Thế Tôn liền gọi các Tỷ-kheo:
—Các Ông có thấy không, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo kia đi đến, da bạc trắng, ốm yếu, với cái mũi cao?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 5 —Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được sự chứng đắc mà trước kia vị Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc. Vị ấy còn ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vi-n 6 Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Sát-lỵ là tối thượng,
Giữa mọi loài chúng sanh,
Với những ai nương tựa,
Vào vấn đề giai cấp.
Bậc Minh Hạnh cụ túc,
Tối thượng giữa Trời, Người,
Ngày, mặt trời chói sáng,
Ðêm, mặt trăng chói sáng,
Trong tấm áo chiến bào,
Sát-lỵ được chói sáng.
Trong Thiền định, Thiền tri,
Bà-là-môn chói sáng,
Nhưng suốt cả đêm ngày,
Phật chói sáng hào quang.
Sāvatthiyaṁ viharati.
Atha kho āyasmā mahākappino yena bhagavā tenupasaṅkami.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ mahākappinaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna bhikkhū āmantesi:
“passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ bhikkhuṁ āgacchantaṁ odātakaṁ tanukaṁ tuṅganāsikan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Eso kho, bhikkhave, bhikkhu mahiddhiko mahānubhāvo.
Na ca sā samāpatti sulabharūpā yā tena bhikkhunā asamāpannapubbā.
Yassa catthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti tadanuttaraṁ brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ,
ye gottapaṭisārino;
Vijjācaraṇasampanno,
so seṭṭho devamānuse.
Divā tapati ādicco,
rattimābhāti candimā;
Sannaddho khattiyo tapati,
jhāyī tapati brāhmaṇo;
Atha sabbamahorattiṁ,
buddho tapati tejasā”ti.
Ekādasamaṁ.
SC 1At Savatthi. Then the Venerable Mahakappina approached the Blessed One. The Blessed One saw him coming in the distance and addressed the bhikkhus thus: “Bhikkhus, do you see that bhikkhu coming, fair-skinned, thin, with a prominent nose?”
“Yes, venerable sir.”
SC 2“That bhikkhu is of great spiritual power and might. It is not easy to find an attainment which that bhikkhu has not already attained. And he is one who, by realizing it for himself with direct knowledge, in this very life enters and dwells in that unsurpassed goal of the holy life for the sake of which clansmen rightly go forth from the household life into homelessness.”
SC 3This is what the Blessed One said. Having said this, the Fortunate One, the Teacher, further said this:
SC 4“The khattiya is the best among people
For those whose standard is the clan,
But one accomplished in knowledge and conduct
Is best among devas and humans.
SC 5“The sun shines by day,
The moon glows at night,
The khattiya shines clad in armour,
The meditative brahmin shines.
But all the time, day and night,
The Buddha shines with glory.” sn.ii.285
Vi-n 1 … Trú ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Rồi Tôn giả Mahà Kappina đi đến Thế Tôn.
Vi-n 3 Thế Tôn thấy Tôn giả Mahà Kappina từ đường xa đi đến.
Vi-n 4 Sau khi thấy, Thế Tôn liền gọi các Tỷ-kheo:
—Các Ông có thấy không, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo kia đi đến, da bạc trắng, ốm yếu, với cái mũi cao?
—Thưa có, bạch Thế Tôn.
Vi-n 5 —Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, có đại thần thông, có đại uy lực. Thật không dễ gì đạt được sự chứng đắc mà trước kia vị Tỷ-kheo ấy chưa chứng đắc. Vị ấy còn ngay trong hiện tại, tự mình với thắng trí, chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô thượng cứu cánh Phạm hạnh mà vì mục đích này, con các lương gia chơn chánh xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.
Vi-n 6 Thế Tôn thuyết như vậy, Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:
Sát-lỵ là tối thượng,
Giữa mọi loài chúng sanh,
Với những ai nương tựa,
Vào vấn đề giai cấp.
Bậc Minh Hạnh cụ túc,
Tối thượng giữa Trời, Người,
Ngày, mặt trời chói sáng,
Ðêm, mặt trăng chói sáng,
Trong tấm áo chiến bào,
Sát-lỵ được chói sáng.
Trong Thiền định, Thiền tri,
Bà-là-môn chói sáng,
Nhưng suốt cả đêm ngày,
Phật chói sáng hào quang.
Sāvatthiyaṁ viharati.
Atha kho āyasmā mahākappino yena bhagavā tenupasaṅkami.
Addasā kho bhagavā āyasmantaṁ mahākappinaṁ dūratova āgacchantaṁ.
Disvāna bhikkhū āmantesi:
“passatha no tumhe, bhikkhave, etaṁ bhikkhuṁ āgacchantaṁ odātakaṁ tanukaṁ tuṅganāsikan”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Eso kho, bhikkhave, bhikkhu mahiddhiko mahānubhāvo.
Na ca sā samāpatti sulabharūpā yā tena bhikkhunā asamāpannapubbā.
Yassa catthāya kulaputtā sammadeva agārasmā anagāriyaṁ pabbajanti tadanuttaraṁ brahmacariyapariyosānaṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharatī”ti.
Idamavoca bhagavā.
Idaṁ vatvāna sugato athāparaṁ etadavoca satthā:
“Khattiyo seṭṭho janetasmiṁ,
ye gottapaṭisārino;
Vijjācaraṇasampanno,
so seṭṭho devamānuse.
Divā tapati ādicco,
rattimābhāti candimā;
Sannaddho khattiyo tapati,
jhāyī tapati brāhmaṇo;
Atha sabbamahorattiṁ,
buddho tapati tejasā”ti.
Ekādasamaṁ.