Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kappa bạch Thế Tôn:
—Do biết như thế nào, thấy như thế nào, bạch Thế Tôn, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, tâm ý không còn các tư tưởng ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt qua kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát?
Vi-n 3 —Phàm có sắc gì, này Kappa, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại … tất cả sắc, sau khi như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, được giải thoát, không có chấp thủ.
Vi-n 4-6. Phàm có thọ gì … tưởng … các hành …
Vi-n 7 Phàm có thức gì, này Kappa, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức, sau khi như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, được giải thoát, không có chấp thủ.
Vi-n 8 Do biết như vậy, thấy như vậy, này Kappa, đối với thân có thức này, và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm ý không có các tư tưởng ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt qua kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā kappo bhagavantaṁ etadavoca:
“kathaṁ nu kho, bhante, jānato kathaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānāpagataṁ mānasaṁ hoti vidhā samatikkantaṁ santaṁ suvimuttan”ti?
“Yaṁ kiñci, kappa, rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anupādāvimutto hoti.
Yā kāci vedanā …
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anupādāvimutto hoti.
Evaṁ kho, kappa, jānato evaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānāpagataṁ mānasaṁ hoti vidhā samatikkantaṁ santaṁ suvimuttan”ti.
Terasamaṁ.
Dhammakathikavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Avijjā vijjā dve kathikā,
Bandhanā paripucchitā duve;
Saṁyojanaṁ upādānaṁ,
Sīlaṁ sutavā dve ca kappenāti.
At Sāvatthī.
Seated to one side, Venerable Kappa said to the Buddha:
“Sir, how does one know and see so that the heart is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and externally for all signs; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed?”
“Kappa, one is freed by not grasping having truly seen any kind of form at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all form—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
One is freed by not grasping having truly seen any kind of feeling …
perception …
choices …
consciousness at all—past, future, or present; internal or external; solid or subtle; inferior or superior; far or near: all consciousness—with right understanding: ‘This is not mine, I am not this, this is not my self.’
That’s how to know and see so that the heart is rid of I-making, mine-making, and conceit for this conscious body and externally for all signs; and going beyond discrimination, it’s peaceful and well freed.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Sāvatthi.
Vi-n 2 Ngồi xuống một bên, Tôn giả Kappa bạch Thế Tôn:
—Do biết như thế nào, thấy như thế nào, bạch Thế Tôn, đối với thân có thức này và đối với tất cả tướng ở ngoài, tâm ý không còn các tư tưởng ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt qua kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát?
Vi-n 3 —Phàm có sắc gì, này Kappa, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại … tất cả sắc, sau khi như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, được giải thoát, không có chấp thủ.
Vi-n 4-6. Phàm có thọ gì … tưởng … các hành …
Vi-n 7 Phàm có thức gì, này Kappa, thuộc quá khứ, vị lai, hiện tại, hoặc nội hay ngoại, hoặc thô hay tế, hoặc liệt hay thắng, hoặc xa hay gần; tất cả thức, sau khi như thật quán với chánh trí tuệ là: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”, được giải thoát, không có chấp thủ.
Vi-n 8 Do biết như vậy, thấy như vậy, này Kappa, đối với thân có thức này, và trong tất cả tướng ở ngoài, tâm ý không có các tư tưởng ngã kiến, ngã sở kiến, ngã mạn, vượt qua kiêu mạn, tịch tịnh, khéo giải thoát.
Sāvatthinidānaṁ.
Ekamantaṁ nisinno kho āyasmā kappo bhagavantaṁ etadavoca:
“kathaṁ nu kho, bhante, jānato kathaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānāpagataṁ mānasaṁ hoti vidhā samatikkantaṁ santaṁ suvimuttan”ti?
“Yaṁ kiñci, kappa, rūpaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ …pe… sabbaṁ rūpaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anupādāvimutto hoti.
Yā kāci vedanā …
yā kāci saññā …
ye keci saṅkhārā …
yaṁ kiñci viññāṇaṁ atītānāgatapaccuppannaṁ ajjhattaṁ vā bahiddhā vā oḷārikaṁ vā sukhumaṁ vā hīnaṁ vā paṇītaṁ vā yaṁ dūre santike vā, sabbaṁ viññāṇaṁ ‘netaṁ mama, nesohamasmi, na meso attā’ti evametaṁ yathābhūtaṁ sammappaññāya disvā anupādāvimutto hoti.
Evaṁ kho, kappa, jānato evaṁ passato imasmiñca saviññāṇake kāye bahiddhā ca sabbanimittesu ahaṅkāramamaṅkāramānāpagataṁ mānasaṁ hoti vidhā samatikkantaṁ santaṁ suvimuttan”ti.
Terasamaṁ.
Dhammakathikavaggo dutiyo.
Tassuddānaṁ
Avijjā vijjā dve kathikā,
Bandhanā paripucchitā duve;
Saṁyojanaṁ upādānaṁ,
Sīlaṁ sutavā dve ca kappenāti.