Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Hãy giống như mặt trăng, này các Tỷ-kheo, khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, chớ có đường đột xông xáo (appagabbha).
Vi-n 3 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người nhìn một cái giếng cũ, hay sườn núi dốc, hay thác nước, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, hãy giống như mặt trăng khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo.
Kassapa, này các Tỷ-kheo, giống như mặt trăng, khi đi đến các gia đình, thân dè dặt và tâm dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo.
Vi-n 4 Các ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo? Như thế nào một Tỷ-kheo xứng đáng đi đến các gia đình?
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ sở y. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Vi-n 6 Rồi Thế Tôn vẫy bàn tay giữa hư không:
—Ví như, này các Tỷ-kheo, bàn tay này giữa hư không, không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo đi đến các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng: “Những ai muốn được lợi, hãy được lợi! Những ai muốn công đức, hãy làm các công đức!”.
Vi-n 7 Như mình hoan hỷ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỷ, thỏa mãn khi người khác được lợi! Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình. Này các Tỷ-kheo, Kassapa khi đi đến các gia đình, đối với các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng: “Những ai muốn được lợi hãy được lợi! Những ai muốn công đức hãy làm các công đức!”
Vi-n 8 Như mình hoan hỷ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỷ, thỏa mãn, khi người khác được lợi!
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình.
Vi-n 10 Các ông nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo? Tỷ-kheo như thế nào, thuyết pháp không thanh tịnh? Tỷ-kheo như thế nào, thuyết pháp được thanh tịnh?
Vi-n 11 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Vi-n 12 —Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 13 —Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác: “Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hoan hỷ. Ðược hoan hỷ, mong họ làm cho ta hoan hỷ”, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy thuyết pháp không thanh tịnh.
Vi-n 14 —Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác: “Pháp được Thế Tôn khéo giảng, pháp ấy liên hệ đến hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hiểu rõ pháp. Và sau khi hiểu rõ pháp, mong họ như vậy thực hành; duyên pháp thiện pháp tánh (dhammasudhammataṁ) thuyết pháp cho các người khác. Duyên lòng từ bi, duyên lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác”, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy là Tỷ-kheo thanh tịnh thuyết pháp.
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác: “Pháp được Thế Tôn khéo giảng, pháp ấy liên hệ đến hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hiểu rõ pháp. Và sau khi được hiểu rõ pháp, mong họ như vậy thực hành; duyên pháp thiện pháp tánh, duyên từ bi, duyên lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác”.
Vi-n 16 Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta đã giáo giới các ông, hay với ai giống như Kassapa! Ðược giáo giới, các ông phải như thật thực hành.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Candūpamā, bhikkhave, kulāni upasaṅkamatha—
apakasseva kāyaṁ, apakassa cittaṁ, niccanavakā kulesu appagabbhā.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso jarudapānaṁ vā olokeyya pabbatavisamaṁ vā nadīviduggaṁ vā—
apakasseva kāyaṁ, apakassa cittaṁ;
evameva kho, bhikkhave, candūpamā kulāni upasaṅkamatha—
apakasseva kāyaṁ, apakassa cittaṁ, niccanavakā kulesu appagabbhā.
Kassapo, bhikkhave, candūpamo kulāni upasaṅkamati—
apakasseva kāyaṁ, apakassa cittaṁ, niccanavako kulesu appagabbho.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
kathaṁrūpo bhikkhu arahati kulāni upasaṅkamitun”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
Atha kho bhagavā ākāse pāṇiṁ cālesi.
“Seyyathāpi, bhikkhave, ayaṁ ākāse pāṇi na sajjati na gayhati na bajjhati;
evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno kulāni upasaṅkamato kulesu cittaṁ na sajjati na gayhati na bajjhati:
‘labhantu lābhakāmā, puññakāmā karontu puññānī’ti;
yathāsakena lābhena attamano hoti sumano, evaṁ paresaṁ lābhena attamano hoti sumano;
evarūpo kho, bhikkhave, bhikkhu arahati kulāni upasaṅkamituṁ.
Kassapassa, bhikkhave, kulāni upasaṅkamato kulesu cittaṁ na sajjati na gayhati na bajjhati:
‘labhantu lābhakāmā, puññakāmā karontu puññānī’ti;
yathāsakena lābhena attamano hoti sumano;
evaṁ paresaṁ lābhena attamano hoti sumano.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
kathaṁrūpassa bhikkhuno aparisuddhā dhammadesanā hoti, kathaṁrūpassa bhikkhuno parisuddhā dhammadesanā hotī”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu evaṁcitto paresaṁ dhammaṁ deseti:
‘aho vata me dhammaṁ suṇeyyuṁ, sutvā ca pana dhammaṁ pasīdeyyuṁ, pasannā ca me pasannākāraṁ kareyyun’ti;
evarūpassa kho, bhikkhave, bhikkhuno aparisuddhā dhammadesanā hoti.
Yo ca kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁcitto paresaṁ dhammaṁ deseti:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhīti.
Aho vata me dhammaṁ suṇeyyuṁ, sutvā ca pana dhammaṁ ājāneyyuṁ, ājānitvā ca pana tathattāya paṭipajjeyyun’ti.
Iti dhammasudhammataṁ paṭicca paresaṁ dhammaṁ deseti, kāruññaṁ paṭicca anuddayaṁ paṭicca anukampaṁ upādāya paresaṁ dhammaṁ deseti.
Evarūpassa kho, bhikkhave, bhikkhuno parisuddhā dhammadesanā hoti.
Kassapo, bhikkhave, evaṁcitto paresaṁ dhammaṁ deseti:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhīti.
Aho vata me dhammaṁ suṇeyyuṁ, sutvā ca pana dhammaṁ ājāneyyuṁ, ājānitvā ca pana tathattāya paṭipajjeyyun’ti.
Iti dhammasudhammataṁ paṭicca paresaṁ dhammaṁ deseti, kāruññaṁ paṭicca anuddayaṁ paṭicca anukampaṁ upādāya paresaṁ dhammaṁ deseti.
Kassapena vā hi vo, bhikkhave, ovadissāmi yo vā panassa kassapasadiso, ovaditehi ca pana vo tathattāya paṭipajjitabban”ti.
Tatiyaṁ.
SC 1At Savatthī. “Bhikkhus, you should approach families like the moon—sn.ii.198 drawing back the body and mind, always acting like newcomers, without impudence towards families. Just as a man looking down an old well, a precipice, or a steep riverbank would draw back the body and mind, so too, bhikkhus, should you approach families.
SC 2“Bhikkhus, Kassapa approaches families like the moon—drawing back the body and mind, always acting like a newcomer, without impudence towards families. What do you think, bhikkhus, what kind of bhikkhu is worthy to approach families?”
SC 3“Venerable sir, our teachings are rooted in the Blessed One, guided by the Blessed One, take recourse in the Blessed One. It would be good if the Blessed One would clear up the meaning of this statement. Having heard it from him, the bhikkhus will remember it.”
SC 4Then the Blessed One waved his hand in space and said: “Bhikkhus, just as this hand does not get caught in space, is not held fast by it, is not bound by it, so when a bhikkhu approaches families his mind does not get caught, held fast, and bound amidst families, thinking: ‘May those desiring gains acquire gains, may those desiring merits make merits!’ He is as elated and happy over the gains of others as he is over his own gains. Such a bhikkhu is worthy to approach families.
SC 5“Bhikkhus, when Kassapa approaches families his mind does not get caught, held fast, or bound amidst families, thinking: ‘May those desiring gains acquire gains, may those desiring merits make merits!’ He is as elated and happy over the gains of others as he is over his own gains. sn.ii.199
SC 6“What do you think, bhikkhus, how is a bhikkhu’s teaching of the Dhamma impure, and how is his teaching of the Dhamma pure?”
SC 7“Venerable sir, our teachings are rooted in the Blessed One….”
SC 8“Then listen and attend closely, bhikkhus, I will speak.”
SC 9“Yes, venerable sir,” those bhikkhus replied. The Blessed One said this:
SC 10“A bhikkhu teaches the Dhamma to others with the thought: ‘Oh, may they listen to the Dhamma from me! Having listened, may they gain confidence in the Dhamma! Being confident, may they show their confidence to me!’ Such a bhikkhu’s teaching of the Dhamma is impure.
SC 11“But a bhikkhu teaches the Dhamma to others with the thought: ‘The Dhamma is well expounded by the Blessed One, directly visible, immediate, inviting one to come and see, applicable, to be personally experienced by the wise. Oh, may they listen to the Dhamma from me! Having listened, may they understand the Dhamma! Having understood, may they practise accordingly!’ Thus he teaches the Dhamma to others because of the intrinsic excellence of the Dhamma; he teaches the Dhamma to others from compassion and sympathy, out of tender concern. Such a bhikkhu’s teaching of the Dhamma is pure.
SC 12“Bhikkhus, Kassapa teaches the Dhamma to others with the thought: ‘The Dhamma is well expounded by the Blessed One…. Oh, sn.ii.200 may they listen to the Dhamma from me! Having listened, may they understand the Dhamma! Having understood, may they practise accordingly!’ He teaches the Dhamma to others because of the intrinsic excellence of the Dhamma; he teaches the Dhamma to others from compassion and sympathy, out of tender concern.
SC 13“Bhikkhus, I will exhort you by the example of Kassapa or one who is similar to Kassapa. Being exhorted, you should practise accordingly.”
Vi-n 1 Trú ở Sāvatthī.
Vi-n 2 —Hãy giống như mặt trăng, này các Tỷ-kheo, khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, chớ có đường đột xông xáo (appagabbha).
Vi-n 3 Ví như, này các Tỷ-kheo, một người nhìn một cái giếng cũ, hay sườn núi dốc, hay thác nước, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, hãy giống như mặt trăng khi đi đến các gia đình, thân phải dè dặt, tâm phải dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo.
Kassapa, này các Tỷ-kheo, giống như mặt trăng, khi đi đến các gia đình, thân dè dặt và tâm dè dặt, luôn luôn là người mới giữa các gia đình, không có đường đột xông xáo.
Vi-n 4 Các ông nghĩ thế nào, này các Tỷ-kheo? Như thế nào một Tỷ-kheo xứng đáng đi đến các gia đình?
Vi-n 5 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ sở y. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Vi-n 6 Rồi Thế Tôn vẫy bàn tay giữa hư không:
—Ví như, này các Tỷ-kheo, bàn tay này giữa hư không, không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc. Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, là vị Tỷ-kheo đi đến các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng: “Những ai muốn được lợi, hãy được lợi! Những ai muốn công đức, hãy làm các công đức!”.
Vi-n 7 Như mình hoan hỷ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỷ, thỏa mãn khi người khác được lợi! Này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình. Này các Tỷ-kheo, Kassapa khi đi đến các gia đình, đối với các gia đình, tâm không bị dính vào, không bị nắm lấy, không bị trói buộc, nghĩ rằng: “Những ai muốn được lợi hãy được lợi! Những ai muốn công đức hãy làm các công đức!”
Vi-n 8 Như mình hoan hỷ, thỏa mãn khi mình được lợi; hãy hoan hỷ, thỏa mãn, khi người khác được lợi!
Vi-n 9 Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy xứng đáng đi đến các gia đình.
Vi-n 10 Các ông nghĩ như thế nào, này các Tỷ-kheo? Tỷ-kheo như thế nào, thuyết pháp không thanh tịnh? Tỷ-kheo như thế nào, thuyết pháp được thanh tịnh?
Vi-n 11 —Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn làm chỗ y chỉ. Lành thay, bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy nói lên ý nghĩa của lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
Vi-n 12 —Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói.
—Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
Vi-n 13 —Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác: “Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hoan hỷ. Ðược hoan hỷ, mong họ làm cho ta hoan hỷ”, này các Tỷ-kheo, vị Tỷ-kheo như vậy thuyết pháp không thanh tịnh.
Vi-n 14 —Và này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo nào với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác: “Pháp được Thế Tôn khéo giảng, pháp ấy liên hệ đến hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hiểu rõ pháp. Và sau khi hiểu rõ pháp, mong họ như vậy thực hành; duyên pháp thiện pháp tánh (dhammasudhammataṁ) thuyết pháp cho các người khác. Duyên lòng từ bi, duyên lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác”, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo như vậy là Tỷ-kheo thanh tịnh thuyết pháp.
Vi-n 15 Này các Tỷ-kheo, Kassapa với tâm như thế này thuyết pháp cho các người khác: “Pháp được Thế Tôn khéo giảng, pháp ấy liên hệ đến hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu. Ôi, mong họ được nghe pháp ta giảng. Và sau khi nghe pháp, mong họ được hiểu rõ pháp. Và sau khi được hiểu rõ pháp, mong họ như vậy thực hành; duyên pháp thiện pháp tánh, duyên từ bi, duyên lòng từ mẫn, khởi lòng lân mẫn thuyết pháp cho các người khác”.
Vi-n 16 Với Kassapa, này các Tỷ-kheo, Ta đã giáo giới các ông, hay với ai giống như Kassapa! Ðược giáo giới, các ông phải như thật thực hành.
Sāvatthiyaṁ viharati.
“Candūpamā, bhikkhave, kulāni upasaṅkamatha—
apakasseva kāyaṁ, apakassa cittaṁ, niccanavakā kulesu appagabbhā.
Seyyathāpi, bhikkhave, puriso jarudapānaṁ vā olokeyya pabbatavisamaṁ vā nadīviduggaṁ vā—
apakasseva kāyaṁ, apakassa cittaṁ;
evameva kho, bhikkhave, candūpamā kulāni upasaṅkamatha—
apakasseva kāyaṁ, apakassa cittaṁ, niccanavakā kulesu appagabbhā.
Kassapo, bhikkhave, candūpamo kulāni upasaṅkamati—
apakasseva kāyaṁ, apakassa cittaṁ, niccanavako kulesu appagabbho.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
kathaṁrūpo bhikkhu arahati kulāni upasaṅkamitun”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
Atha kho bhagavā ākāse pāṇiṁ cālesi.
“Seyyathāpi, bhikkhave, ayaṁ ākāse pāṇi na sajjati na gayhati na bajjhati;
evameva kho, bhikkhave, yassa kassaci bhikkhuno kulāni upasaṅkamato kulesu cittaṁ na sajjati na gayhati na bajjhati:
‘labhantu lābhakāmā, puññakāmā karontu puññānī’ti;
yathāsakena lābhena attamano hoti sumano, evaṁ paresaṁ lābhena attamano hoti sumano;
evarūpo kho, bhikkhave, bhikkhu arahati kulāni upasaṅkamituṁ.
Kassapassa, bhikkhave, kulāni upasaṅkamato kulesu cittaṁ na sajjati na gayhati na bajjhati:
‘labhantu lābhakāmā, puññakāmā karontu puññānī’ti;
yathāsakena lābhena attamano hoti sumano;
evaṁ paresaṁ lābhena attamano hoti sumano.
Taṁ kiṁ maññatha, bhikkhave,
kathaṁrūpassa bhikkhuno aparisuddhā dhammadesanā hoti, kathaṁrūpassa bhikkhuno parisuddhā dhammadesanā hotī”ti?
“Bhagavaṁmūlakā no, bhante, dhammā bhagavaṁnettikā bhagavaṁpaṭisaraṇā. Sādhu vata, bhante, bhagavantaṁyeva paṭibhātu etassa bhāsitassa attho. Bhagavato sutvā bhikkhū dhāressantī”ti.
“Tena hi, bhikkhave, suṇātha, sādhukaṁ manasi karotha, bhāsissāmī”ti.
“Evaṁ, bhante”ti kho te bhikkhū bhagavato paccassosuṁ.
Bhagavā etadavoca:
“Yo hi koci, bhikkhave, bhikkhu evaṁcitto paresaṁ dhammaṁ deseti:
‘aho vata me dhammaṁ suṇeyyuṁ, sutvā ca pana dhammaṁ pasīdeyyuṁ, pasannā ca me pasannākāraṁ kareyyun’ti;
evarūpassa kho, bhikkhave, bhikkhuno aparisuddhā dhammadesanā hoti.
Yo ca kho, bhikkhave, bhikkhu evaṁcitto paresaṁ dhammaṁ deseti:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhīti.
Aho vata me dhammaṁ suṇeyyuṁ, sutvā ca pana dhammaṁ ājāneyyuṁ, ājānitvā ca pana tathattāya paṭipajjeyyun’ti.
Iti dhammasudhammataṁ paṭicca paresaṁ dhammaṁ deseti, kāruññaṁ paṭicca anuddayaṁ paṭicca anukampaṁ upādāya paresaṁ dhammaṁ deseti.
Evarūpassa kho, bhikkhave, bhikkhuno parisuddhā dhammadesanā hoti.
Kassapo, bhikkhave, evaṁcitto paresaṁ dhammaṁ deseti:
‘svākkhāto bhagavatā dhammo sandiṭṭhiko akāliko ehipassiko opaneyyiko paccattaṁ veditabbo viññūhīti.
Aho vata me dhammaṁ suṇeyyuṁ, sutvā ca pana dhammaṁ ājāneyyuṁ, ājānitvā ca pana tathattāya paṭipajjeyyun’ti.
Iti dhammasudhammataṁ paṭicca paresaṁ dhammaṁ deseti, kāruññaṁ paṭicca anuddayaṁ paṭicca anukampaṁ upādāya paresaṁ dhammaṁ deseti.
Kassapena vā hi vo, bhikkhave, ovadissāmi yo vā panassa kassapasadiso, ovaditehi ca pana vo tathattāya paṭipajjitabban”ti.
Tatiyaṁ.