Vi-n 1 Ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có nhiều ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện, sống cùng nhau trong những chòi lá trong rừng.
Vi-n 3 Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka và Vepacitti, vua các A-tu-la, đi đến các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy.
Vi-n 4 Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, sau khi mang giày ống (hia), cầm đao kiếm, có lọng che, đi vào am thất bằng cửa chính, miệt thị và phạm thượng các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, còn Thiên chủ Sakka thời cởi giày ống, giao kiếm cho người khác, xếp lọng, đi vào am thất bằng cửa phụ, đứng phía sau các ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy, chấp tay vái chào.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy nói lên bài kệ với Thiên chủ Sakka:
Mùi hương các ẩn sĩ,
Ðã lâu ngày tu hành,
Xuất phát từ thân họ,
Ðược gió thổi mang đi,
Từ đó thổi đến người.
Ôi vị có ngàn mắt,
Mùi hương các ẩn sĩ,
Không được cho thanh tịnh,
Này vị vua chư Thiên.
Vi-n 7 (Sakka):
Mùi hương các ẩn sĩ,
Ðã lâu ngày tu hành,
Xuất phát từ thân họ,
Hãy được gió mang đi,
Như vòng hoa nhiều loại,
Ðược trang sức trên đầu.
Chư Tôn giả, chúng tôi,
Ước mong được hương ấy,
Không gì ở nơi đây,
Làm chư Thiên ghê tởm.
Sāvatthiyaṁ.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, sambahulā isayo sīlavanto kalyāṇadhammā araññāyatane paṇṇakuṭīsu sammanti.
Atha kho, bhikkhave, sakko ca devānamindo vepacitti ca asurindo yena te isayo sīlavanto kalyāṇadhammā tenupasaṅkamiṁsu.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo paṭaliyo upāhanā ārohitvā khaggaṁ olaggetvā chattena dhāriyamānena aggadvārena assamaṁ pavisitvā te isayo sīlavante kalyāṇadhamme apabyāmato karitvā atikkami.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo paṭaliyo upāhanā orohitvā khaggaṁ aññesaṁ datvā chattaṁ apanāmetvā dvāreneva assamaṁ pavisitvā te isayo sīlavante kalyāṇadhamme anuvātaṁ pañjaliko namassamāno aṭṭhāsi.
Atha kho, bhikkhave, te isayo sīlavanto kalyāṇadhammā sakkaṁ devānamindaṁ gāthāya ajjhabhāsiṁsu:
‘Gandho isīnaṁ ciradikkhitānaṁ,
Kāyā cuto gacchati mālutena;
Ito paṭikkamma sahassanetta,
Gandho isīnaṁ asuci devarājā’ti.
‘Gandho isīnaṁ ciradikkhitānaṁ,
Kāyā cuto gacchatu mālutena;
Sucitrapupphaṁ sirasmiṁva mālaṁ,
Gandhaṁ etaṁ paṭikaṅkhāma bhante;
Na hettha devā paṭikūlasaññino’”ti.
SC 1At Savatthī. “Bhikkhus, once in the past a number of seers who were virtuous and of good character had settled down in leaf huts in a tract of forest. Then Sakka, lord of the devas, and Vepacitti, lord of the asuras, approached those seers.
SC 2“Vepacitti, lord of the asuras, put on his boots, bound his sword on tightly, and, with a parasol borne aloft, entered the hermitage through the main gate; then, having turned his left side towards them, he walked past those seers who were virtuous and of good character. But Sakka, lord of the devas, took off his boots, handed over his sword to others, lowered his parasol, and entered the hermitage through an ordinary gate; then he stood on the lee side, raising his joined hands in reverential salutation, paying homage to those seers who were virtuous and of good character.
SC 3“Then, bhikkhus, those seers addressed Sakka in verse:
SC 4 “‘The odour of the seers long bound by their vows,
Emitted from their bodies, goes with the wind.
Turn away from here, O thousand-eyed god,
For the seers’ odour is foul, O deva-king.’
Sakka:
SC 5 “‘Let the odour of the seers long bound by their vows,
Emitted from their bodies, go with the wind;
We yearn for this odour, O venerable sirs,
As for a garland of flowers on the head. sn.i.227
The devas do not perceive it as repulsive.’”
Vi-n 1 Ở Sāvatthi.
Vi-n 2 —Thuở xưa, này các Tỷ-kheo, có nhiều ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện, sống cùng nhau trong những chòi lá trong rừng.
Vi-n 3 Rồi này các Tỷ-kheo, Thiên chủ Sakka và Vepacitti, vua các A-tu-la, đi đến các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy.
Vi-n 4 Rồi này các Tỷ-kheo, Vepacitti, vua các A-tu-la, sau khi mang giày ống (hia), cầm đao kiếm, có lọng che, đi vào am thất bằng cửa chính, miệt thị và phạm thượng các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy.
Vi-n 5 Này các Tỷ-kheo, còn Thiên chủ Sakka thời cởi giày ống, giao kiếm cho người khác, xếp lọng, đi vào am thất bằng cửa phụ, đứng phía sau các ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy, chấp tay vái chào.
Vi-n 6 Này các Tỷ-kheo, các vị ẩn sĩ trì giới, tánh hiền thiện ấy nói lên bài kệ với Thiên chủ Sakka:
Mùi hương các ẩn sĩ,
Ðã lâu ngày tu hành,
Xuất phát từ thân họ,
Ðược gió thổi mang đi,
Từ đó thổi đến người.
Ôi vị có ngàn mắt,
Mùi hương các ẩn sĩ,
Không được cho thanh tịnh,
Này vị vua chư Thiên.
Vi-n 7 (Sakka):
Mùi hương các ẩn sĩ,
Ðã lâu ngày tu hành,
Xuất phát từ thân họ,
Hãy được gió mang đi,
Như vòng hoa nhiều loại,
Ðược trang sức trên đầu.
Chư Tôn giả, chúng tôi,
Ước mong được hương ấy,
Không gì ở nơi đây,
Làm chư Thiên ghê tởm.
Sāvatthiyaṁ.
“Bhūtapubbaṁ, bhikkhave, sambahulā isayo sīlavanto kalyāṇadhammā araññāyatane paṇṇakuṭīsu sammanti.
Atha kho, bhikkhave, sakko ca devānamindo vepacitti ca asurindo yena te isayo sīlavanto kalyāṇadhammā tenupasaṅkamiṁsu.
Atha kho, bhikkhave, vepacitti asurindo paṭaliyo upāhanā ārohitvā khaggaṁ olaggetvā chattena dhāriyamānena aggadvārena assamaṁ pavisitvā te isayo sīlavante kalyāṇadhamme apabyāmato karitvā atikkami.
Atha kho, bhikkhave, sakko devānamindo paṭaliyo upāhanā orohitvā khaggaṁ aññesaṁ datvā chattaṁ apanāmetvā dvāreneva assamaṁ pavisitvā te isayo sīlavante kalyāṇadhamme anuvātaṁ pañjaliko namassamāno aṭṭhāsi.
Atha kho, bhikkhave, te isayo sīlavanto kalyāṇadhammā sakkaṁ devānamindaṁ gāthāya ajjhabhāsiṁsu:
‘Gandho isīnaṁ ciradikkhitānaṁ,
Kāyā cuto gacchati mālutena;
Ito paṭikkamma sahassanetta,
Gandho isīnaṁ asuci devarājā’ti.
‘Gandho isīnaṁ ciradikkhitānaṁ,
Kāyā cuto gacchatu mālutena;
Sucitrapupphaṁ sirasmiṁva mālaṁ,
Gandhaṁ etaṁ paṭikaṅkhāma bhante;
Na hettha devā paṭikūlasaññino’”ti.