Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, có năm loại chủng tử. Thế nào là năm? Chủng tử từ rễ, chủng tử từ thân, chủng tử từ đọt, chủng tử từ quả, và chủng tử từ chủng tử là thứ năm.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, nếu năm loại chủng tử này không bị hư hoại, không bị hư thối, không bị gió và nhiệt phá hoại, có lõi cứng, khéo gieo, nhưng không có đất, và không có nước, thời này các Tỷ-kheo, năm loại chủng tử này có thể tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh được không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 5 —Và này các Tỷ-kheo, nếu năm loại chủng tử này không bị hư hoại, không bị hư thối, không bị gió và nhiệt phá hoại, có lõi cứng, khéo gieo, có đất và có nước, thời này các Tỷ-kheo, năm loại chủng tử này có thể tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh được không?
—Thưa được, bạch Thế Tôn.
Vi-n 6 —Này các Tỷ-kheo, ví như đất, bốn thức trú cần phải được xem như vậy. Ví như nước, này các Tỷ-kheo, hỷ tham cần phải được xem như vậy. Ví như năm loại chủng tử, này các Tỷ-kheo, thức cùng các món ăn cần phải được xem như vậy.
Vi-n 7 Do tham luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
Vi-n 8-10. Do tham luyến thọ … Do tham luyến tưởng … Do tham luyến các hành, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được tồn tại. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, tăng thịnh hay sự lớn mạnh của thức”, sự việc như vậy không xảy ra.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu.
Vi-n 13-16. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới … đối với tưởng giới … đối với hành giới … đối với thức giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu.
Vi-n 17 Không có chỗ y chỉ như vậy, thức không tăng thịnh, không có hành động, được giải thoát; do giải thoát nên được kiên trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không có ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch tịnh hoàn toàn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthinidānaṁ.
“Pañcimāni, bhikkhave, bījajātāni.
Katamāni pañca?
Mūlabījaṁ, khandhabījaṁ, aggabījaṁ, phalubījaṁ, bījabījaññeva pañcamaṁ.
Imāni cassu, bhikkhave, pañca bījajātāni akhaṇḍāni apūtikāni avātātapahatāni sārādāni sukhasayitāni, pathavī ca nāssa, āpo ca nāssa;
api numāni, bhikkhave, pañca bījajātāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyyun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Imāni cassu, bhikkhave, pañca bījajātāni akhaṇḍāni …pe… sukhasayitāni, pathavī ca assa, āpo ca assa;
api numāni, bhikkhave, pañca bījajātāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyyun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi, bhikkhave, pathavīdhātu, evaṁ catasso viññāṇaṭṭhitiyo daṭṭhabbā.
Seyyathāpi, bhikkhave, āpodhātu, evaṁ nandirāgo daṭṭhabbo.
Seyyathāpi, bhikkhave, pañca bījajātāni, evaṁ viññāṇaṁ sāhāraṁ daṭṭhabbaṁ.
Rūpupayaṁ, bhikkhave, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya, rūpārammaṇaṁ rūpappatiṭṭhaṁ nandūpasecanaṁ vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyya.
Vedanupayaṁ vā, bhikkhave, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya …pe…
saññupayaṁ vā, bhikkhave, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya …pe…
saṅkhārupayaṁ vā, bhikkhave, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya, saṅkhārārammaṇaṁ saṅkhārappatiṭṭhaṁ nandūpasecanaṁ vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyya.
Yo, bhikkhave, evaṁ vadeyya:
‘ahamaññatra rūpā aññatra vedanāya aññatra saññāya aññatra saṅkhārehi viññāṇassa āgatiṁ vā gatiṁ vā cutiṁ vā upapattiṁ vā vuddhiṁ vā virūḷhiṁ vā vepullaṁ vā paññāpessāmī’ti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Rūpadhātuyā ceva, bhikkhave, bhikkhuno rāgo pahīno hoti.
Rāgassa pahānā vocchijjatārammaṇaṁ patiṭṭhā viññāṇassa na hoti.
Vedanādhātuyā ce …
saññādhātuyā ce …
saṅkhāradhātuyā ce …
viññāṇadhātuyā ce, bhikkhave, bhikkhuno rāgo pahīno hoti.
Rāgassa pahānā vocchijjatārammaṇaṁ patiṭṭhā viññāṇassa na hoti.
Tadappatiṭṭhitaṁ viññāṇaṁ avirūḷhaṁ anabhisaṅkhacca vimuttaṁ.
Vimuttattā ṭhitaṁ. Ṭhitattā santusitaṁ. Santusitattā na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti …pe… nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Dutiyaṁ.
SC 1At Savatthi. “Bhikkhus, there are these five kinds of seeds. What five? Root-seeds, stem-seeds, joint-seeds, cutting-seeds, and germ-seeds as the fifth. If these five kinds of seeds are unbroken, unspoilt, undamaged by wind and sun, fertile, securely planted, but there is no earth or water, would these five kinds of seeds come to growth, increase, and expansion?”
“No, venerable sir.”
SC 2“If these five kinds of seeds are broken, spoilt, damaged by wind and sun, unfertile, not securely planted, but there is earth and water, would these five kinds of seeds come to growth, increase, and expansion?”
“No, venerable sir.”
SC 3“If these five kinds of seeds are unbroken, unspoilt, undamaged by wind and sun, fertile, securely planted, and there is earth and water, would these five kinds of seeds come to growth, increase, and expansion?”
“Yes, venerable sir.”
SC 4“Bhikkhus, the four stations of consciousness should be seen as like the earth element. Delight and lust should be seen as like the water element. Consciousness together with its nutriment should be seen as like the five kinds of seeds.
SC 5“Consciousness, bhikkhus, while standing, might stand engaged with form; sn.iii.55 based upon form, established upon form, with a sprinkling of delight, it might come to growth, increase, and expansion. Or consciousness, while standing, might stand engaged with feeling … engaged with perception … engaged with volitional formations; based upon volitional formations, established upon volitional formations, with a sprinkling of delight, it might come to growth, increase, and expansion.
SC 6“Bhikkhus, though someone might say: ‘Apart from form, apart from feeling, apart from perception, apart from volitional formations, I will make known the coming and going of consciousness, its passing away and rebirth, its growth, increase, and expansion’—that is impossible.
SC 7“Bhikkhus, if a bhikkhu has abandoned lust for the form element, with the abandoning of lust the basis is cut off: there is no support for the establishing of consciousness. If he has abandoned lust for the feeling element … for the perception element … for the volitional formations element … for the consciousness element, with the abandoning of lust the basis is cut off: there is no support for the establishing of consciousness.
SC 8“When that consciousness is unestablished, not coming to growth, nongenerative, it is liberated. By being liberated, it is steady; by being steady, it is content; by being content, he is not agitated. Being unagitated, he personally attains Nibbāna. He understands: ‘Destroyed is birth, the holy life has been lived, what had to be done has been done, there is no more for this state of being.’”
Vi-n 1-2. Nhân duyên ở Sāvatthi …
Vi-n 3 —Này các Tỷ-kheo, có năm loại chủng tử. Thế nào là năm? Chủng tử từ rễ, chủng tử từ thân, chủng tử từ đọt, chủng tử từ quả, và chủng tử từ chủng tử là thứ năm.
Vi-n 4 Và này các Tỷ-kheo, nếu năm loại chủng tử này không bị hư hoại, không bị hư thối, không bị gió và nhiệt phá hoại, có lõi cứng, khéo gieo, nhưng không có đất, và không có nước, thời này các Tỷ-kheo, năm loại chủng tử này có thể tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh được không?
—Thưa không, bạch Thế Tôn.
Vi-n 5 —Và này các Tỷ-kheo, nếu năm loại chủng tử này không bị hư hoại, không bị hư thối, không bị gió và nhiệt phá hoại, có lõi cứng, khéo gieo, có đất và có nước, thời này các Tỷ-kheo, năm loại chủng tử này có thể tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh được không?
—Thưa được, bạch Thế Tôn.
Vi-n 6 —Này các Tỷ-kheo, ví như đất, bốn thức trú cần phải được xem như vậy. Ví như nước, này các Tỷ-kheo, hỷ tham cần phải được xem như vậy. Ví như năm loại chủng tử, này các Tỷ-kheo, thức cùng các món ăn cần phải được xem như vậy.
Vi-n 7 Do tham luyến sắc, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được an trú. Với sắc là sở duyên, với sắc là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
Vi-n 8-10. Do tham luyến thọ … Do tham luyến tưởng … Do tham luyến các hành, này các Tỷ-kheo, thức có chân đứng được tồn tại. Với hành là sở duyên, với hành là trú xứ, (thức) hướng tìm hỷ, đi đến tăng trưởng, tăng thịnh, lớn mạnh.
Vi-n 11 Này các Tỷ-kheo, ai nói như sau: “Ngoài sắc, ngoài thọ, ngoài tưởng, ngoài các hành, tôi sẽ chỉ rõ sự đến hay đi, sự diệt hay sanh, sự tăng trưởng, tăng thịnh hay sự lớn mạnh của thức”, sự việc như vậy không xảy ra.
Vi-n 12 Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với sắc giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu.
Vi-n 13-16. Này các Tỷ-kheo, nếu vị Tỷ-kheo đoạn tận tham đối với thọ giới … đối với tưởng giới … đối với hành giới … đối với thức giới; do tham được đoạn tận, sở duyên được cắt đứt, chỗ y chỉ của thức không có hiện hữu.
Vi-n 17 Không có chỗ y chỉ như vậy, thức không tăng thịnh, không có hành động, được giải thoát; do giải thoát nên được kiên trú; do kiên trú nên được tri túc; do tri túc nên không có ưu não; do không có ưu não nên tự mình cảm thấy tịch tịnh hoàn toàn. Vị ấy biết: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Sāvatthinidānaṁ.
“Pañcimāni, bhikkhave, bījajātāni.
Katamāni pañca?
Mūlabījaṁ, khandhabījaṁ, aggabījaṁ, phalubījaṁ, bījabījaññeva pañcamaṁ.
Imāni cassu, bhikkhave, pañca bījajātāni akhaṇḍāni apūtikāni avātātapahatāni sārādāni sukhasayitāni, pathavī ca nāssa, āpo ca nāssa;
api numāni, bhikkhave, pañca bījajātāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyyun”ti?
“No hetaṁ, bhante”.
“Imāni cassu, bhikkhave, pañca bījajātāni akhaṇḍāni …pe… sukhasayitāni, pathavī ca assa, āpo ca assa;
api numāni, bhikkhave, pañca bījajātāni vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyyun”ti?
“Evaṁ, bhante”.
“Seyyathāpi, bhikkhave, pathavīdhātu, evaṁ catasso viññāṇaṭṭhitiyo daṭṭhabbā.
Seyyathāpi, bhikkhave, āpodhātu, evaṁ nandirāgo daṭṭhabbo.
Seyyathāpi, bhikkhave, pañca bījajātāni, evaṁ viññāṇaṁ sāhāraṁ daṭṭhabbaṁ.
Rūpupayaṁ, bhikkhave, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya, rūpārammaṇaṁ rūpappatiṭṭhaṁ nandūpasecanaṁ vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyya.
Vedanupayaṁ vā, bhikkhave, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya …pe…
saññupayaṁ vā, bhikkhave, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya …pe…
saṅkhārupayaṁ vā, bhikkhave, viññāṇaṁ tiṭṭhamānaṁ tiṭṭheyya, saṅkhārārammaṇaṁ saṅkhārappatiṭṭhaṁ nandūpasecanaṁ vuddhiṁ virūḷhiṁ vepullaṁ āpajjeyya.
Yo, bhikkhave, evaṁ vadeyya:
‘ahamaññatra rūpā aññatra vedanāya aññatra saññāya aññatra saṅkhārehi viññāṇassa āgatiṁ vā gatiṁ vā cutiṁ vā upapattiṁ vā vuddhiṁ vā virūḷhiṁ vā vepullaṁ vā paññāpessāmī’ti, netaṁ ṭhānaṁ vijjati.
Rūpadhātuyā ceva, bhikkhave, bhikkhuno rāgo pahīno hoti.
Rāgassa pahānā vocchijjatārammaṇaṁ patiṭṭhā viññāṇassa na hoti.
Vedanādhātuyā ce …
saññādhātuyā ce …
saṅkhāradhātuyā ce …
viññāṇadhātuyā ce, bhikkhave, bhikkhuno rāgo pahīno hoti.
Rāgassa pahānā vocchijjatārammaṇaṁ patiṭṭhā viññāṇassa na hoti.
Tadappatiṭṭhitaṁ viññāṇaṁ avirūḷhaṁ anabhisaṅkhacca vimuttaṁ.
Vimuttattā ṭhitaṁ. Ṭhitattā santusitaṁ. Santusitattā na paritassati. Aparitassaṁ paccattaññeva parinibbāyati.
‘Khīṇā jāti …pe… nāparaṁ itthattāyā’ti pajānātī”ti.
Dutiyaṁ.