Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja tuyên bố với chánh trí như sau: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa. Ta rõ biết như vậy”.
Vi-n 3 Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja đã tuyên bố với chánh trí như sau: “Ta rõ biết rằng: Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Do thấy lý do gì (althavasam), bạch Thế Tôn, Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja lại tuyên bố với chánh trí rằng: “Ta rõ biết: Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”?
Vi-n 4 —Do tu tập, do làm cho sung mãn ba căn, này các Tỷ-kheo, khiến Tỷ-kheo Piṇḍolabhāradvāja tuyên bố với chánh trí rằng: “Ta rõ biết: Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Ba căn ấy là gì?
Vi-n 5 Niệm căn, định căn, tuệ căn.
Vi-n 6 Chính do tu tập, do làm cho sung mãn ba căn này, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo Piṇḍolabhāradvāja đã tuyên bố với chánh trí rằng: “Ta rõ biết: Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 7 Và này các Tỷ-kheo, ba căn này, chúng đi đến tận cùng ở đâu? Tận cùng đi đến đoạn diệt. Ði đến đoạn diệt cái gì? Ði đến đoạn diệt gì? —Sanh già và chết. Vì thấy sanh già và chết đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, nên Tỷ-kheo Piṇḍolabhāradvāja đã tuyên bố với chánh trí rằng: “Ta rõ biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Tena kho pana samayena āyasmatā piṇḍolabhāradvājena aññā byākatā hoti:
“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī”ti.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Āyasmatā, bhante, piṇḍolabhāradvājena aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmīti.
Kiṁ nu kho, bhante, atthavasaṁ sampassamānena āyasmatā piṇḍolabhāradvājena aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti?
“Tiṇṇannaṁ kho, bhikkhave, indriyānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā piṇḍolabhāradvājena bhikkhunā aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmīti.
Katamesaṁ tiṇṇannaṁ?
Satindriyassa, samādhindriyassa, paññindriyassa—
Imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇannaṁ indriyānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā piṇḍolabhāradvājena bhikkhunā aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmīti.
Imāni ca, bhikkhave, tīṇindriyāni kimantāni?
Khayantāni.
Kissa khayantāni?
Jātijarāmaraṇassa.
‘Jātijarāmaraṇaṁ khayan’ti kho, bhikkhave, sampassamānena piṇḍolabhāradvājena bhikkhunā aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti.
Navamaṁ.
So I have heard.
At one time the Buddha was staying near Kosambī, in Ghosita’s Monastery.
Now at that time Venerable Bhāradvāja the Alms-Gatherer had declared enlightenment:
“I understand: ‘Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.’”
Then several mendicants went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. Then they said,
“What reason does Bhāradvāja the Alms-Gatherer see for doing this?”
“It’s because Bhāradvāja the Alms-Gatherer has developed and cultivated three faculties that he declares enlightenment:
‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’
What three?
The faculties of mindfulness, immersion, and wisdom.
It’s because Bhāradvāja the Alms-Gatherer has developed and cultivated these three faculties that he declares enlightenment.
What’s the culmination of these three faculties?
They culminate in ending.
In the ending of what?
Of rebirth, old age, and death.
It’s because he sees that they culminate in the ending of rebirth, old age, and death that Bhāradvāja the Alms-Gatherer declares enlightenment:
‘I understand: “Rebirth is ended, the spiritual journey has been completed, what had to be done has been done, there is nothing further for this place.”’”
Vi-n 1 Như vầy tôi nghe.
Một thời Thế Tôn trú ở Kosambi, tại khu vườn Ghosita.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja tuyên bố với chánh trí như sau: “Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa. Ta rõ biết như vậy”.
Vi-n 3 Rồi một số đông Tỷ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:
—Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja đã tuyên bố với chánh trí như sau: “Ta rõ biết rằng: Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Do thấy lý do gì (althavasam), bạch Thế Tôn, Tôn giả Piṇḍolabhāradvāja lại tuyên bố với chánh trí rằng: “Ta rõ biết: Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”?
Vi-n 4 —Do tu tập, do làm cho sung mãn ba căn, này các Tỷ-kheo, khiến Tỷ-kheo Piṇḍolabhāradvāja tuyên bố với chánh trí rằng: “Ta rõ biết: Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”. Ba căn ấy là gì?
Vi-n 5 Niệm căn, định căn, tuệ căn.
Vi-n 6 Chính do tu tập, do làm cho sung mãn ba căn này, này các Tỷ-kheo, khiến cho Tỷ-kheo Piṇḍolabhāradvāja đã tuyên bố với chánh trí rằng: “Ta rõ biết: Sanh đã tận … không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Vi-n 7 Và này các Tỷ-kheo, ba căn này, chúng đi đến tận cùng ở đâu? Tận cùng đi đến đoạn diệt. Ði đến đoạn diệt cái gì? Ði đến đoạn diệt gì? —Sanh già và chết. Vì thấy sanh già và chết đoạn diệt, này các Tỷ-kheo, nên Tỷ-kheo Piṇḍolabhāradvāja đã tuyên bố với chánh trí rằng: “Ta rõ biết: Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa”.
Evaṁ me sutaṁ—
ekaṁ samayaṁ bhagavā kosambiyaṁ viharati ghositārāme.
Tena kho pana samayena āyasmatā piṇḍolabhāradvājena aññā byākatā hoti:
“khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyāti pajānāmī”ti.
Atha kho sambahulā bhikkhū yena bhagavā tenupasaṅkamiṁsu; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdiṁsu. Ekamantaṁ nisinnā kho te bhikkhū bhagavantaṁ etadavocuṁ:
“Āyasmatā, bhante, piṇḍolabhāradvājena aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmīti.
Kiṁ nu kho, bhante, atthavasaṁ sampassamānena āyasmatā piṇḍolabhāradvājena aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti?
“Tiṇṇannaṁ kho, bhikkhave, indriyānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā piṇḍolabhāradvājena bhikkhunā aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmīti.
Katamesaṁ tiṇṇannaṁ?
Satindriyassa, samādhindriyassa, paññindriyassa—
Imesaṁ kho, bhikkhave, tiṇṇannaṁ indriyānaṁ bhāvitattā bahulīkatattā piṇḍolabhāradvājena bhikkhunā aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmīti.
Imāni ca, bhikkhave, tīṇindriyāni kimantāni?
Khayantāni.
Kissa khayantāni?
Jātijarāmaraṇassa.
‘Jātijarāmaraṇaṁ khayan’ti kho, bhikkhave, sampassamānena piṇḍolabhāradvājena bhikkhunā aññā byākatā:
‘khīṇā jāti, vusitaṁ brahmacariyaṁ, kataṁ karaṇīyaṁ, nāparaṁ itthattāyā’ti pajānāmī”ti.
Navamaṁ.