Vi-n 1 Một thời Tôn giả Vangìsa trú ở Āḷavi, tại đền Aggàlavi, cùng với giáo thọ sư là Tôn giả Nigrodha Kappa.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Vangìsa thường hay khinh miệt các vị Tỷ—kheo ôn hòa khác vì khả năng biệt tài của mình.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Thật bất lợi cho ta! Thật không lợi cho ta! Thật bất hạnh cho ta! Thật không may cho ta! Vì rằng ta khinh miệt các vị Tỷ-kheo ôn hòa khác vì khả năng biện tài của ta”.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Vangìsa, tự hối trách mình, liền ngay khi ấy, nói lên những bài kệ này:
Ðệ tử Gotama,
Hãy từ bỏ kiêu mạn,
Và cũng tự bỏ luôn,
Con đường đến kiêu mạn.
Nếu hoàn toàn đắm say,
Trong con đường kiêu mạn,
Sẽ tự mình hối trách,
Trong thời gian lâu dài.
Những ai khinh khi người,
Với khinh khi kiêu mạn,
Ði con đường kiêu mạn,
Sẽ đọa lạc địa ngục.
Những người ấy sầu khổ,
Trong thời gian lâu dài,
Do kiêu mạn dắt dẫn,
Phải sanh vào địa ngục.
Tỷ-kheo không bao giờ
Phải sầu muộn buồn thảm,
Thắng lợi trên chánh đạo,
Sở hành được chân chánh,
Vị ấy được thọ hưởng,
Danh dự và an lạc,
Chơn thực được danh xưng,
Là bậc hưởng Pháp lạc.
Do vậy ở đời này,
Không thô lậu, tinh tấn
Ðoạn trừ mọi triền cái,
Sống thanh tịnh trong sạch,
Và đoạn tận kiêu mạn,
Hoàn toàn, không dư thừa,
Chấm dứt mọi phiền não,
Với trí tuệ quang minh,
Ngài được xem là bậc
Sống tịch tịnh an lạc.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā vaṅgīso āḷaviyaṁ viharati aggāḷave cetiye āyasmatā nigrodhakappena upajjhāyena saddhiṁ.
Tena kho pana samayena āyasmā vaṅgīso attano paṭibhānena aññe pesale bhikkhū atimaññati.
Atha kho āyasmato vaṅgīsassa etadahosi:
“alābhā vata me, na vata me lābhā; dulladdhaṁ vata me, na vata me suladdhaṁ;
yvāhaṁ attano paṭibhānena aññe pesale bhikkhū atimaññāmī”ti.
Atha kho āyasmā vaṅgīso attanāva attano vippaṭisāraṁ uppādetvā tāyaṁ velāyaṁ imā gāthāyo abhāsi:
“Mānaṁ pajahassu gotama,
Mānapathañca pajahassu;
Asesaṁ mānapathasmiṁ,
Samucchito vippaṭisārīhuvā cirarattaṁ.
Makkhena makkhitā pajā,
Mānahatā nirayaṁ papatanti;
Socanti janā cirarattaṁ,
Mānahatā nirayaṁ upapannā.
Na hi socati bhikkhu kadāci,
Maggajino sammāpaṭipanno;
Kittiñca sukhañca anubhoti,
Dhammadasoti tamāhu pahitattaṁ.
Tasmā akhilodha padhānavā,
Nīvaraṇāni pahāya visuddho;
Mānañca pahāya asesaṁ,
Vijjāyantakaro samitāvī”ti.
At one time Venerable Vaṅgīsa was staying near Āḷavī, at Āḷavī’s premier shrine, together with his mentor, Venerable Nigrodhakappa.
Now at that time Venerable Vaṅgīsa looked down upon other good-hearted mendicants because of his own poetic virtuosity.
Then he thought,
“It’s my loss, my misfortune,
that I look down on other good-hearted mendicants because of my own poetic virtuosity.”
Then, on the occasion of arousing remorse in himself, he recited these verses:
“Give up conceit, Gotama!
Completely abandon the different kinds of conceit!
Besotted with the different kinds of conceit,
you’ve had regrets for a long time.
Smeared by smears and slain by conceit,
people fall into hell.
When people slain by conceit are reborn in hell,
they grieve for a long time.
But a mendicant who practices rightly,
a path-victor, never grieves.
They enjoy happiness and a good reputation,
and they rightly call him a ‘Seer of Truth’.
So being not hard-hearted, but energetic,
with hindrances given up, pure;
and having completely given up conceit,
the one who makes an end with knowledge is assuaged.”
Vi-n 1 Một thời Tôn giả Vangìsa trú ở Āḷavi, tại đền Aggàlavi, cùng với giáo thọ sư là Tôn giả Nigrodha Kappa.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, Tôn giả Vangìsa thường hay khinh miệt các vị Tỷ—kheo ôn hòa khác vì khả năng biệt tài của mình.
Vi-n 3 Rồi Tôn giả Vangìsa suy nghĩ: “Thật bất lợi cho ta! Thật không lợi cho ta! Thật bất hạnh cho ta! Thật không may cho ta! Vì rằng ta khinh miệt các vị Tỷ-kheo ôn hòa khác vì khả năng biện tài của ta”.
Vi-n 4 Rồi Tôn giả Vangìsa, tự hối trách mình, liền ngay khi ấy, nói lên những bài kệ này:
Ðệ tử Gotama,
Hãy từ bỏ kiêu mạn,
Và cũng tự bỏ luôn,
Con đường đến kiêu mạn.
Nếu hoàn toàn đắm say,
Trong con đường kiêu mạn,
Sẽ tự mình hối trách,
Trong thời gian lâu dài.
Những ai khinh khi người,
Với khinh khi kiêu mạn,
Ði con đường kiêu mạn,
Sẽ đọa lạc địa ngục.
Những người ấy sầu khổ,
Trong thời gian lâu dài,
Do kiêu mạn dắt dẫn,
Phải sanh vào địa ngục.
Tỷ-kheo không bao giờ
Phải sầu muộn buồn thảm,
Thắng lợi trên chánh đạo,
Sở hành được chân chánh,
Vị ấy được thọ hưởng,
Danh dự và an lạc,
Chơn thực được danh xưng,
Là bậc hưởng Pháp lạc.
Do vậy ở đời này,
Không thô lậu, tinh tấn
Ðoạn trừ mọi triền cái,
Sống thanh tịnh trong sạch,
Và đoạn tận kiêu mạn,
Hoàn toàn, không dư thừa,
Chấm dứt mọi phiền não,
Với trí tuệ quang minh,
Ngài được xem là bậc
Sống tịch tịnh an lạc.
Ekaṁ samayaṁ āyasmā vaṅgīso āḷaviyaṁ viharati aggāḷave cetiye āyasmatā nigrodhakappena upajjhāyena saddhiṁ.
Tena kho pana samayena āyasmā vaṅgīso attano paṭibhānena aññe pesale bhikkhū atimaññati.
Atha kho āyasmato vaṅgīsassa etadahosi:
“alābhā vata me, na vata me lābhā; dulladdhaṁ vata me, na vata me suladdhaṁ;
yvāhaṁ attano paṭibhānena aññe pesale bhikkhū atimaññāmī”ti.
Atha kho āyasmā vaṅgīso attanāva attano vippaṭisāraṁ uppādetvā tāyaṁ velāyaṁ imā gāthāyo abhāsi:
“Mānaṁ pajahassu gotama,
Mānapathañca pajahassu;
Asesaṁ mānapathasmiṁ,
Samucchito vippaṭisārīhuvā cirarattaṁ.
Makkhena makkhitā pajā,
Mānahatā nirayaṁ papatanti;
Socanti janā cirarattaṁ,
Mānahatā nirayaṁ upapannā.
Na hi socati bhikkhu kadāci,
Maggajino sammāpaṭipanno;
Kittiñca sukhañca anubhoti,
Dhammadasoti tamāhu pahitattaṁ.
Tasmā akhilodha padhānavā,
Nīvaraṇāni pahāya visuddho;
Mānañca pahāya asesaṁ,
Vijjāyantakaro samitāvī”ti.