Vi-n 1 Nhân duyên ở Kapilavatthu.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, họ Thích Sarakàni mệnh chung và được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chứng quả giác ngộ.
Vi-n 3 Tại đấy, một số đông họ Thích tụ họp lại với nhau, chỉ trích, phê bình, bàn tán: “Thật là lạ lùng! Thật là hy hữu! Ngày nay ai cũng có thể thành bậc Dự lưu, vì rằng họ Thích Sarakàni đã mệnh chung, được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Họ Thích Sarakàni đã phạm giới và uống rượu”.
Vi-n 4 Rồi họ Thích Mahānāma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahānāma bạch Thế Tôn:
Vi-n 5 —Ở đây, bạch Thế Tôn, họ Thích Sarakàni đã mệnh chung và được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu … chứng quả giác ngộ. Ở đây, bạch Thế Tôn, một số đông họ Thích khi tụ tập lại với nhau, chỉ trích, phê bình, bàn tán: “Thật là lạ lùng! Thật là hy hữu! … Họ Thích Sarakàni đã phạm giới và uống rượu”
—Này Mahānāma, một cư sĩ lâu ngày qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng làm sao có thể đi đến đọa xứ được?
Vi-n 6 Này Mahānāma, nếu nói một cách chơn chánh: Người cư sĩ nào đã lâu ngày qui y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nói một cách chơn chánh phải nói là họ Thích Sarakàni. Này Mahānāma, họ Thích Sarakàni đã lâu ngày quy y Phật, quy y Pháp, qui y Tăng, làm sao có thể đi đến đọa xứ?
Vi-n 7 Ở đây, này Mahānāma, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng, có trí tuệ hoan hỷ (hàsapanna), có trí tuệ tốc hành và thành tựu giải thoát. Vị ấy do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 8 Ở đây, này Mahānāma, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật. “Ðây là là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ tốc hành nhưng không thành tựu giải thoát. Vị ấy do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 9 Ở đây, này Mahānāma, có người thành tựu lòng tịnh tin đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, sau khi làm cho muội lược tham, sân, thành bậc Nhất lai, chỉ trở lui đời này một lần nữa, đoạn tận khổ đau. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 10 Ở đây, này Mahānāma, có người thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật … đối với Pháp … đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 11 Ở đây, này Mahānāma, có người không có lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật … đối với Pháp … đối với Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành … không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn và những pháp này do Như Lai tuyên bố được thiểu phần kham nhẫn quán sát với trí tuệ. Người này, này Mahānāma, không đi đến địa ngục, không đi đến loài bàng sanh, không đi đến cõi ngạ quỷ, không đi đến ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 12 Ở đây, này Mahānāma, có người không thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, đối với pháp, đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, chỉ có lòng tin, chỉ có lòng ái mộ ở Như Lai. Người này, này Mahānāma, không có đi đến địa ngục, không có đi đến loài bàng sanh, không có đi đến cõi ngạ quỷ, không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 13 Nếu những cây ta-la lớn này, này Mahānāma, biết những gì là thiện thuyết, ác thuyết, thời Ta cũng sẽ tuyên bố những cây ấy là những bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ, huống nữa là họ Thích Sarakàni. Này Mahàanàma, họ Thích Sarakàni, sau khi mệnh chung, đã chấp nhận học giới.
Kapilavatthunidānaṁ.
Tena kho pana samayena saraṇāni sakko kālaṅkato hoti.
So bhagavatā byākato:
“sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
Tatra sudaṁ sambahulā sakkā saṅgamma samāgamma ujjhāyanti khīyanti vipācenti:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Ettha dāni ko na sotāpanno bhavissati.
Yatra hi nāma saraṇāni sakko kālaṅkato;
so bhagavatā byākato:
‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
Saraṇāni sakko sikkhādubbalyamāpādi, majjapānaṁ apāyī”ti.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“idha, bhante, saraṇāni sakko kālaṅkato.
So bhagavatā byākato:
‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
Tatra sudaṁ, bhante, sambahulā sakkā saṅgamma samāgamma ujjhāyanti khīyanti vipācenti—
acchariyaṁ vata, bho, abbhutaṁ vata, bho.
Ettha dāni ko na sotāpanno bhavissati.
Yatra hi nāma saraṇāni sakko kālaṅkato;
so bhagavatā byākato:
‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
Saraṇāni sakko sikkhādubbalyamāpādi, majjapānaṁ apāyī”ti.
“Yo so, mahānāma, dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato, so kathaṁ vinipātaṁ gaccheyya.
Yañhi taṁ, mahānāma, sammā vadamāno vadeyya:
‘dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato’ti, saraṇāni sakkaṁ sammā vadamāno vadeyya.
Saraṇāni, mahānāma, sakko dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato.
So kathaṁ vinipātaṁ gaccheyya.
Idha, mahānāma, ekacco puggalo buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
hāsapañño javanapañño vimuttiyā ca samannāgato.
So āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
hāsapañño javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti;
dhamme …pe…
saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇoti.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo na heva kho buddhe aveccappasādena samannāgato hoti …
na dhamme …pe…
na saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
Api cassa ime dhammā honti—
saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ.
Tathāgatappaveditā cassa dhammā paññāya mattaso nijjhānaṁ khamanti.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo agantā nirayaṁ agantā tiracchānayoniṁ agantā pettivisayaṁ agantā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo na heva kho buddhe aveccappasādena samannāgato hoti …
na dhamme …pe…
na saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato,
api cassa ime dhammā honti
saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ.
Tathāgate cassa saddhāmattaṁ hoti pemamattaṁ.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo agantā nirayaṁ agantā tiracchānayoniṁ agantā pettivisayaṁ agantā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ.
Ime cepi, mahānāma, mahāsālā subhāsitaṁ dubbhāsitaṁ ājāneyyuṁ, ime cāhaṁ mahāsāle byākareyyaṁ: ‘sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā’ti;
kimaṅgaṁ pana saraṇāniṁ sakkaṁ.
Saraṇāni, mahānāma, sakko maraṇakāle sikkhaṁ samādiyī”ti.
Catutthaṁ.
At Kapilavatthu.
Now at that time Sarakāni the Sakyan had passed away.
The Buddha declared that he was
a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening.
At that, several Sakyans came together complaining, grumbling, and objecting,
“Oh lord, how incredible, how amazing!
Who can’t become a stream-enterer these days?
For the Buddha even declared Sarakāni to be a stream-enterer after he passed away.
Sarakāni was too weak for the training; he used to drink liquor.”
Then Mahānāma the Sakyan went up to the Buddha, bowed, sat down to one side, and told him what had happened. The Buddha said:
“Mahānāma, when a lay follower has for a long time gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, how could they go to the underworld?
And if anyone should rightly be said to
have for a long time gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha, it’s Sarakāni the Sakyan.
Sarakāni the Sakyan has for a long time gone for refuge to the Buddha, the teaching, and the Saṅgha.
How could he go to the underworld?
Take a certain individual who has experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
They have laughing wisdom and swift wisdom, and are endowed with freedom.
They’ve realized the undefiled freedom of heart and freedom by wisdom in this very life. And they live having realized it with their own insight due to the ending of defilements.
This individual is exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.
Take another individual who has experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
They have laughing wisdom and swift wisdom, but are not endowed with freedom.
With the ending of the five lower fetters they’re reborn spontaneously. They are extinguished there, and are not liable to return from that world.
This individual, too, is exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.
Take another individual who has experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
But they don’t have laughing wisdom or swift wisdom, nor are they endowed with freedom.
With the ending of three fetters, and the weakening of greed, hate, and delusion, they’re a once-returner. They come back to this world once only, then make an end of suffering.
This individual, too, is exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.
Take another individual who has experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
But they don’t have laughing wisdom or swift wisdom, nor are they endowed with freedom.
With the ending of three fetters they’re a stream-enterer, not liable to be reborn in the underworld, destined for awakening.
This individual, too, is exempt from hell, the animal realm, and the ghost realm. They’re exempt from places of loss, bad places, the underworld.
Take another individual who doesn’t have experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
They don’t have laughing wisdom or swift wisdom, nor are they endowed with freedom.
Still, they have these qualities:
the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
And they accept the teachings proclaimed by the Realized One after deliberating them with a degree of wisdom.
This individual, too, doesn’t go to hell, the animal realm, and the ghost realm. They don’t go to places of loss, bad places, the underworld.
Take another individual who doesn’t have experiential confidence in the Buddha …
the teaching …
the Saṅgha …
They don’t have laughing wisdom or swift wisdom, nor are they endowed with freedom.
Still, they have these qualities:
the faculties of faith, energy, mindfulness, immersion, and wisdom.
And they have a degree of faith and love for the Buddha.
This individual, too, doesn’t go to hell, the animal realm, and the ghost realm. They don’t go to places of loss, bad places, the underworld.
If these great sal trees could understand what was well said and poorly said, I’d declare them to be stream-enterers.
Why can’t this apply to Sarakāni?
Mahānāma, Sarakāni the Sakyan undertook the training at the time of his death.”
Vi-n 1 Nhân duyên ở Kapilavatthu.
Vi-n 2 Lúc bấy giờ, họ Thích Sarakàni mệnh chung và được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chứng quả giác ngộ.
Vi-n 3 Tại đấy, một số đông họ Thích tụ họp lại với nhau, chỉ trích, phê bình, bàn tán: “Thật là lạ lùng! Thật là hy hữu! Ngày nay ai cũng có thể thành bậc Dự lưu, vì rằng họ Thích Sarakàni đã mệnh chung, được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Họ Thích Sarakàni đã phạm giới và uống rượu”.
Vi-n 4 Rồi họ Thích Mahānāma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahānāma bạch Thế Tôn:
Vi-n 5 —Ở đây, bạch Thế Tôn, họ Thích Sarakàni đã mệnh chung và được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu … chứng quả giác ngộ. Ở đây, bạch Thế Tôn, một số đông họ Thích khi tụ tập lại với nhau, chỉ trích, phê bình, bàn tán: “Thật là lạ lùng! Thật là hy hữu! … Họ Thích Sarakàni đã phạm giới và uống rượu”
—Này Mahānāma, một cư sĩ lâu ngày qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng làm sao có thể đi đến đọa xứ được?
Vi-n 6 Này Mahānāma, nếu nói một cách chơn chánh: Người cư sĩ nào đã lâu ngày qui y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nói một cách chơn chánh phải nói là họ Thích Sarakàni. Này Mahānāma, họ Thích Sarakàni đã lâu ngày quy y Phật, quy y Pháp, qui y Tăng, làm sao có thể đi đến đọa xứ?
Vi-n 7 Ở đây, này Mahānāma, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng, có trí tuệ hoan hỷ (hàsapanna), có trí tuệ tốc hành và thành tựu giải thoát. Vị ấy do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 8 Ở đây, này Mahānāma, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật. “Ðây là là bậc Ứng Cúng, … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ tốc hành nhưng không thành tựu giải thoát. Vị ấy do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 9 Ở đây, này Mahānāma, có người thành tựu lòng tịnh tin đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng … Phật, Thế Tôn” … đối với Pháp … đối với chúng Tăng … không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, sau khi làm cho muội lược tham, sân, thành bậc Nhất lai, chỉ trở lui đời này một lần nữa, đoạn tận khổ đau. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 10 Ở đây, này Mahānāma, có người thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật … đối với Pháp … đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Người này, này Mahānāma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 11 Ở đây, này Mahānāma, có người không có lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật … đối với Pháp … đối với Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành … không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn và những pháp này do Như Lai tuyên bố được thiểu phần kham nhẫn quán sát với trí tuệ. Người này, này Mahānāma, không đi đến địa ngục, không đi đến loài bàng sanh, không đi đến cõi ngạ quỷ, không đi đến ác sanh, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 12 Ở đây, này Mahānāma, có người không thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, đối với pháp, đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, chỉ có lòng tin, chỉ có lòng ái mộ ở Như Lai. Người này, này Mahānāma, không có đi đến địa ngục, không có đi đến loài bàng sanh, không có đi đến cõi ngạ quỷ, không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.
Vi-n 13 Nếu những cây ta-la lớn này, này Mahānāma, biết những gì là thiện thuyết, ác thuyết, thời Ta cũng sẽ tuyên bố những cây ấy là những bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ, huống nữa là họ Thích Sarakàni. Này Mahàanàma, họ Thích Sarakàni, sau khi mệnh chung, đã chấp nhận học giới.
Kapilavatthunidānaṁ.
Tena kho pana samayena saraṇāni sakko kālaṅkato hoti.
So bhagavatā byākato:
“sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo”ti.
Tatra sudaṁ sambahulā sakkā saṅgamma samāgamma ujjhāyanti khīyanti vipācenti:
“acchariyaṁ vata bho, abbhutaṁ vata bho.
Ettha dāni ko na sotāpanno bhavissati.
Yatra hi nāma saraṇāni sakko kālaṅkato;
so bhagavatā byākato:
‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
Saraṇāni sakko sikkhādubbalyamāpādi, majjapānaṁ apāyī”ti.
Atha kho mahānāmo sakko yena bhagavā tenupasaṅkami; upasaṅkamitvā bhagavantaṁ abhivādetvā ekamantaṁ nisīdi. Ekamantaṁ nisinno kho mahānāmo sakko bhagavantaṁ etadavoca:
“idha, bhante, saraṇāni sakko kālaṅkato.
So bhagavatā byākato:
‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
Tatra sudaṁ, bhante, sambahulā sakkā saṅgamma samāgamma ujjhāyanti khīyanti vipācenti—
acchariyaṁ vata, bho, abbhutaṁ vata, bho.
Ettha dāni ko na sotāpanno bhavissati.
Yatra hi nāma saraṇāni sakko kālaṅkato;
so bhagavatā byākato:
‘sotāpanno avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇo’ti.
Saraṇāni sakko sikkhādubbalyamāpādi, majjapānaṁ apāyī”ti.
“Yo so, mahānāma, dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato, so kathaṁ vinipātaṁ gaccheyya.
Yañhi taṁ, mahānāma, sammā vadamāno vadeyya:
‘dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato’ti, saraṇāni sakkaṁ sammā vadamāno vadeyya.
Saraṇāni, mahānāma, sakko dīgharattaṁ upāsako buddhaṁ saraṇaṁ gato dhammaṁ saraṇaṁ gato saṅghaṁ saraṇaṁ gato.
So kathaṁ vinipātaṁ gaccheyya.
Idha, mahānāma, ekacco puggalo buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
hāsapañño javanapañño vimuttiyā ca samannāgato.
So āsavānaṁ khayā anāsavaṁ cetovimuttiṁ paññāvimuttiṁ diṭṭheva dhamme sayaṁ abhiññā sacchikatvā upasampajja viharati.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
hāsapañño javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
So pañcannaṁ orambhāgiyānaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā opapātiko hoti tattha parinibbāyī anāvattidhammo tasmā lokā.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti.
Dhamme …pe…
saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā rāgadosamohānaṁ tanuttā sakadāgāmī hoti, sakideva imaṁ lokaṁ āgantvā dukkhassantaṁ karoti.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo buddhe aveccappasādena samannāgato hoti—
itipi so bhagavā …pe… satthā devamanussānaṁ buddho bhagavāti;
dhamme …pe…
saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
So tiṇṇaṁ saṁyojanānaṁ parikkhayā sotāpanno hoti avinipātadhammo niyato sambodhiparāyaṇoti.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo parimutto nirayā parimutto tiracchānayoniyā parimutto pettivisayā parimutto apāyaduggativinipātā.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo na heva kho buddhe aveccappasādena samannāgato hoti …
na dhamme …pe…
na saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato.
Api cassa ime dhammā honti—
saddhindriyaṁ, vīriyindriyaṁ, satindriyaṁ, samādhindriyaṁ, paññindriyaṁ.
Tathāgatappaveditā cassa dhammā paññāya mattaso nijjhānaṁ khamanti.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo agantā nirayaṁ agantā tiracchānayoniṁ agantā pettivisayaṁ agantā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ.
Idha pana, mahānāma, ekacco puggalo na heva kho buddhe aveccappasādena samannāgato hoti …
na dhamme …pe…
na saṅghe …pe…
na hāsapañño na javanapañño na ca vimuttiyā samannāgato,
api cassa ime dhammā honti
saddhindriyaṁ …pe… paññindriyaṁ.
Tathāgate cassa saddhāmattaṁ hoti pemamattaṁ.
Ayampi kho, mahānāma, puggalo agantā nirayaṁ agantā tiracchānayoniṁ agantā pettivisayaṁ agantā apāyaṁ duggatiṁ vinipātaṁ.
Ime cepi, mahānāma, mahāsālā subhāsitaṁ dubbhāsitaṁ ājāneyyuṁ, ime cāhaṁ mahāsāle byākareyyaṁ: ‘sotāpannā avinipātadhammā niyatā sambodhiparāyaṇā’ti;
kimaṅgaṁ pana saraṇāniṁ sakkaṁ.
Saraṇāni, mahānāma, sakko maraṇakāle sikkhaṁ samādiyī”ti.
Catutthaṁ.